CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng: Theo khoản 1 điều 3 Thông tư 07/2015/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh”. Theo luật TCTD 2010: “bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cam kết với bên bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay đổi cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoạc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận”. Theo giáo trình Tín dụng ngân hàng của Học Viện ngân hàng: “Bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ ngân hàng theo đó, ngân hàng thương mại sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của mình cam kết với bên nhận bảo lãnh để bảo lãnh cho bên được bảo lãnh thực hiện một nghĩa vụ đã được quy định từ trước.
Ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm trả tiền theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh khi điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh được áp ứng”. Trách nhiệm này là không hủy ngang, trừ khi có sự chấp thuận của bên nhận bảo lãnh, ngân hàng thương mại có quyền truy đòi bên được bảo lãnh và bên được bảo lãnh có nghĩa vụ phải bồi hoàn cho ngân hàng thương mại số tiền đã trả thay. Trong một giao dịch bảo lãnh ngân hàng thường có ba chủ thể sau: (1) Bên bảo lãnh (ngân hàng bảo lãnh): là tổ chức tín dụng phát hành cam kết bảo lãnh. Đó thường là tổ chức tín dụng có khả năng tài chính, có chức năng phát hành cam kết bảo lãnh và được bên thụ hưởng chấp nhận.
Có thể là tổ chức tín dụng phục vụ bên được bảo lãnh hoặc nhiều tổ chức tín dụng cùng tham gia bảo lãnh. 5 (2) Bên được bảo lãnh: Là khách hàng được tổ chức tín dụng bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có thể là tổ chức hoặc cá nhân trong hoặc ngoài nước và có điều kiện để tổ chức tín dụng bảo lãnh. (3) Bên nhận bảo lãnh: là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của tổ chức tín dụng.
Hình thức của BLNH là hợp đồng bảo lãnh hay còn gọi là thư bảo lãnh. Thư bảo lãnh là cam kết bằng văn bản giữa khách hàng và ngân hàng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả. Như vậy, bào lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản, là hình thức cấp tín dụng bằng chữ kí, tại thời điểm tham gia bảo lãnh, ngân hàng không trực tiếp xuất vốn mà chỉ dung khả năng tài chính và uy tín của mình để thực hiện nghĩa vụ cam kết từ trước. Bảo lãnh ngân hàng được xem như là một loại hình tín dụng đặc biệt nhờ có nó mà một cá nhân hay một doanh nghiệp không phải bỏ ra một khoản tiền vốn (hoặc không phải đi vay) để đặt cọc, giam chân tại chỗ nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình trong giao kết dân sự đối với đối tác.
Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng Từ khái niệm trên ta thấy thực chất bảo lãnh ngân hàng là một hình thái đặc thù của bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ dân sự, do vậy mà nó vừa mang đặc thù chung của bảo lãnh vừa mang đặc tính riêng chỉ có trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Bảo lãnh NH có sự tham gia của nhiều chủ thể Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ các chủ thể tham gia BLNH Ngân hàng bảo lãnh (2) (3) Người được bảo lãnh Người nhận bảo lãnh (1) 6 (1) Quan hệ giữa bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) và bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) làm xuất hiện nghĩa vụ cần bảo đảm và cam kết về nghĩa vụ cần bảo đảm (đây còn gọi là quan hệ Hợp đồng gốc) (2) Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh với bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) về việc ngân hàng bảo lãnh sẽ phát hành bảo lãnh và bên có nghĩa vụ phải hoàn lại cho bên bảo lãnh giá trị phần nghĩa vụ mà bên bản lãnh đã thực hiện thay mình (đây được gọi là hợp đồng cấp bảo lãnh - một dạng của hợp đồng tín dụng) (3) Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh với bên có quyền (bên thụ hưởng) về việc ngân hàng bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu như đến hạn nghĩa vụ bị vi phạm (như trên đã phân tích thì đây chính là Hợp đồng BLNH) Một hợp đồng bảo lãnh nếu thiếu một trong số các chủ thể nêu trên thì sẽ không tồn tại. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập giữa hai hợp đồng Tính độc lập giữa hợp đồng dịch vụ và hợp đồng bảo lãnh thể hiện ở chỗ hợp đồng này không có hiệu lực không thể làm cho hợp đồng kia vô hiệu và ngược lại. Tính độc lập của bảo lãnh thể hiện trước hết trong mối quan hệ giữa các bên liên quan trong hợp đồng.
Tuy bảo lãnh được hình thành trên nhiều mối quan hệ ràng buộc nhau nhưng do hợp đồng chính và hợp đồng bảo lãnh được hình thành từ mối quan hệ giữa các đối tượng tách biệt nhau và do sự chi phối của các mục đích khác nhau nên tính pháp lý và quyền lợi nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng hoàn toàn độc lập. Vì vậy, ngân hàng chỉ cam kết và thực hiện bảo lãnh theo các điều kiện đã quy định trong hợp đồng bảo lãnh mà không căn cứ vào quyền kháng nghị có được từ hợp đồng gốc. Tính độc lập thể hiện ở trách nhiệm thanh toán của ngân hàng. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với quan hệ giữa ngân hàng và người được bảo lãnh.
Nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán là yêu cầu của người thô hưởng thì người thô hưởng có quyền yêu cầu thanh toán mà không cần phải có chứng từ chứng minh vi phạm của người được bảo lãnh. Còn nếu bảo lãnh quy định yêu cầu phải kèm chứng từ thì người thô hưởng phải xuất trình giấy tờ theo quy định yêu cầu cho ngân hàng thì mới được thanh toán. Trong cả hai trường hợp trên ngân hàng đều không cần căn cứ và xem xét 7 lại nội dung của hợp đồng gốc. Khi các điều kiện bảo lãnh đã được thỏa mãn thì ngân hàng buộc phải thanh toán.
Chính vì thế các ngân hàng luôn phải thận trọng và xem xét khách hàng thật kỹ trước khi đưa ra quyết định bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động thu phí dịch vụ, ngân hàng dựa vào uy tín của mình để tài trợ cho khách hàng, một hoạt động bảo lãnh phát sinh sẽ không làm thay đổi bảng cân đối kế toán của ngân hàng (không ảnh hưởng đến nguồn vốn và sử dụng vốn). Tuy nhiên, trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng theo các điều khoản được ghi trong cam kết bảo lãnh, ngân hàng buộc phải sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh. Nếu bên được bảo lãnh chưa hoàn trả ngay cho ngân hàng, ngân hàng sẽ cấp một khoản tín dụng bắt buộc cho bên được bảo lãnh.
Khi đó, nghiệp vụ bảo lãnh sẽ tác động đến bảng cân đối tài sản của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng. Bởi vậy, tuy là một hoạt động ngoại bảng, bảo lãnh vẫn phải được giám sát và quản lý một cách chặt chẽ như các hình thức cấp tín dụng khác. Bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được thực hiện dựa trên chứng từ Tính chất chứng từ của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ khi tổ chức tín dụng phát hành cam kết bảo lãnh cũng như khi người nhận bảo lãnh thực hiện quyền yêu cầu hay khi tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh, cảc chủ thể này đều bắt buộc phải thiết lập bằng văn bản. Khi người nhận bảo lãnh yêu cầu tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay người được bảo lãnh, họ phải xuất trình các chứng từ phù hợp với nội dung của cam kết bảo lãnh thì mới được trả tiền; ngược lại, tổ chức tín dụng bảo lãnh cũng phải dựa vào văn bản bảo lãnh (là một loại chứng từ) do mình phát hành và đối chiếu với các chứng từ do người nhận bảo lãnh thiết lập và xuất trình để xác định việc đòi tiền của người nhận bảo lãnh có hợp lệ không và mình có phải trả tiền theo yêu cầu đó hay không.
Theo thông lệ quốc tế về bảo lãnh ngân hàng, có ba loại chứng từ quan trọng nhất làm cơ sở cho các bên thực hiện giao dịch bảo lãnh ngân hàng, đó là văn bản bảo lãnh (cam kết bảo lãnh - hợp đồng bảo lãnh hay thư bảo lãnh); yêu cầu trả tiền (Demand for Payment) và tuyên bố 8 vi phạm (Statement of default). Nếu không có ba loại chứng từ này, các bên không thể xác định được việc bảo lãnh ngân hàng có tồn tại hay không và quyền, nghĩa vụ của các bên sẽ được thực hiện như thế nào. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng 1. Chức năng là một công cụ bảo đảm khả năng thanh toán Đây là chức năng trọng yếu của bảo lãnh ngân hàng, trong chức năng này người thụ thưởng sẽ được cung cấp một khoản bồi thường từ người được bảo lãnh khi mà người được bảo lãnh vi phạm cam kết.
Trên thực tế thì người thụ hưởng không mong muốn xảy ra sự cố này, và xác suất vi phạm cam kết phải bồi thường là rất nhỏ. Nhờ chức năng đảm bảo này nhiều hợp đồng kinh tế đươc hoàn thành tốt đẹp do tạo được từ tín nhiệm của khách hàng. Chức năng là công cụ tài trợ Để thực hiện được một dự án có giá thị hợp đồng cao thì cần phải có một lượng vốn lớn, khả năng tài chính vững vàng với những doanh nghiệp mới thì việc phát hành bảo lãnh của ngân hàng là một hình thức tài trợ vốn của ngân hàng cho người thụ hưởng để thực hiện hợp đồng.