CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT KINH DOANH SV: Trần Thị Lệ - CĐ8KE2 3 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐH Tài nguyên & Môi trường HN 1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại Khái niệm về bán hàng: Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá gắn với phần lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh. Xét về góc độ kinh tế: Bán hàng là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hóa sang hình thái vốn tiền tệ.
Yêu cầu của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng: Hiện nay trong điều kiện nền kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp với nhau đặt mỗi doanh nghiệp trước những thách thức to lớn, đòi hỏi bản thân doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình chính sách sản phẩm, chính sách tiêu thụ đúng đắn nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường vừa nâng cao hiệu quả kinh doanh. Do vậy, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp đối với quá trình bán hàng ngày càng trở nên khắt khe và tuân theo các yêu cầu cơ bản sau: - Quản lý sự vận động và số hiện có của từng loại sản phẩm, hàng hoá theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị của chúng. - Quản lý chất lượng, cải tiến mẫu mã và xây dựng thương hiệu sản phẩm là mục tiêu cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. - Tìm hiểu, khai thác và mở rộng thị trường, áp dụng các phương thức bán hàng phù hợp nhằm tăng doanh thu giảm chi phí cho các hoạt động.
- Quản lý chặt chẽ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các chi phí hoạt động khác nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh: SV: Trần Thị Lệ - CĐ8KE2 4 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐH Tài nguyên & Môi trường HN Để đáp ứng được cá yêu cầu quản lý về thành phẩm, hàng hóa; bán hàng xác định kết quả và phân phối kết quả của các hoạt động. Kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây: - Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác, tình hình hiện có và sự biến động của từng loại sản phẩm, hàng hoá theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị. - Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu va chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp.
Đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng. - Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối các hoạt động. - Cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và định kỳ phân tích các hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng và xác định kết quả kinh doanh. Nội dung công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 1.
Các phương thức bán hàng và thanh toán 1. Các phương thức bán hàng - Phương thức tiêu thụ trực tiếp: Là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho (hay trực tiếp tại các phân xưởng không qua kho) của doanh nghiệp. Số hàng khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và người bán mất quyền sở hữu về số hàng này. Người mua đã chấp nhận thanh toán hoặc thanh toán ngay cho số hàng mà người bán đã giao.
- Phương thức tiêu thụ chuyển hàng chờ chấp nhận: Là phương thức mà bên bán chuyển hàng cho bên mua tại thời điểm đã xác định trong hợp đồng. Số hàng chuyển đi này vẫn thuộc sở hữu của bên bán. Khi được bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh SV: Trần Thị Lệ - CĐ8KE2 5 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐH Tài nguyên & Môi trường HN toán về số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ) thì số hàng này mới được coi là tiêu thụ và bên bán mất quyền sở hữu về số hàng đó. - Phương thức bán hàng đại lý, ký gửi: Là phương thức mà bên chủ hàng xuất hàng cho bên nhận đại lý, ký gửi để bán.
Số hàng đại lý, ký gửi vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi chính thức tiêu thụ. Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá. Khoản hoa hồng phải trả này doanh nghiệp hạch toán vào chi phí bán hàng. - Phương thức bán hàng trả góp: Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần.
Người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Về thực chất, chỉ khi nào người mua thanh toán hết tiền hàng thì doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi hàng bán trả góp giao cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ.
Các phương thức thanh toán Việc quản lý quá trình thanh toán đóng vai trò quan trọng trong hoạt động bán hàng, chỉ khi quản lý tốt nghiệp vụ thanh toán doanh nghiệp mới tránh khỏi những tổn thất về tiền hàng, giúp doanh nghiệp không bị chiếm dụng vốn, tạo điều kiện tăng vòng quay của vốn, giữ uy tín với khách hàng. Hiện nay, các doanh nghiệp chủ yếu áp dụng 2 phương thức thanh toán sau: +) Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt: Đây là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người bán và người mua. Khi mua hàng bên mua có thể nhận hàng rồi giao tiền ngay hoặc nhận nợ để sau đó tiến hành xuất quỹ tiền mặt để thanh toán với người bán. +) Thanh toán qua ngân hàng : Trong phương thức thanh toán này ngân hàng sẽ đóng vai trò trung gian thực hiện việc chuyển tiền từ tài khoản của doanh nghiệp này sang tài khoản của doanh nghiệp khác hoặc bù trừ lẫn nhau khi nhận được yêu cầu của các bên tham gia mua bán.
Các hình thức chủ yếu trong phương thức thanh toán này: Thanh toán SV: Trần Thị Lệ - CĐ8KE2 6 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐH Tài nguyên & Môi trường HN bằng séc, thanh toán bằng ủy nhiệm chi (ủy nhiệm thu), thanh toán bù trừ. Ngoài ra còn thanh toán L/C, thanh toán bằng nghiệp vụ ứng trước. Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng a. Doanh thu bán hàng và điều kiện ghi nhận doanh thu Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. - Doanh thu được xác định là tương đối chắc chắn. - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Khi sản phẩm hàng hóa được xác định là tiêu thụ, kế toán phản ánh bút toán ghi nhận doanh thu cùng bút toán giá vốn hàng bán. Doanh thu thuần: là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các khoản giảm trừ doanh thu (bao gồm: giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại, doanh thu hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu). Tài khoản sử dụng TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”: Tài khoản này chỉ phản ánh doanh thu của số lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp được xác định là tiêu thụ trong kỳ không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ thu được tiền.
Có 6 tài khoản cấp II : TK 5111 – Doanh thu bán hàng hoá, TK5112 – Doanh thu bán thành SV: Trần Thị Lệ - CĐ8KE2 7 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐH Tài nguyên & Môi trường HN phẩm, TK5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ, TK5114 – Doanh thu trợ cấp, trợ giá, TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐSĐT, TK 5118 – Doanh thu khác. TK 512 “Doanh thu nội bộ”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm hàng hoá dịch vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty. TK 512 có 3 TK cấp 2: TK 5121 – Doanh thu bán hàng hóa, TK 5122 – Doanh thu bán thành phẩm, TK 5123 – Doanh thu cung cấp dịch vụ. TK 521 “Chiết khấu thương mại”; TK 531 “Hàng bán bị trả lại”; TK 532 “Giảm giá hàng bán”; TK 3387 “Doanh thu chưa thực hiện”; TK 3331 “Thuế GTGT phải nộp”.
Và các tài khoản liên quan như TK 111, 112, 131,…. Chứng từ sử dụng Chứng từ kế toán được sử dụng bao gồm: Hóa đơn GTGT; hóa đơn bán hàng; bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi; thẻ quầy hàng; các chứng từ thanh toán; tờ khai thuế GTGT; các chứng từ liên quan khác. Phương pháp xác định giá vốn hàng bán Khi bán hàng một mặt doanh nghiệp thu được tiền bán hàng theo giá bán gọi là doanh thu, mặt khác doanh nghiệp phải phản ánh giá vốn của hàng xuất bán. Để phản ánh giá vốn hàng xuất bán kế toán sử dụng tài khoản: TK 156 “hàng hoá”, TK 157 “Hàng gửi đi bán”,TK 632 “Giá vốn hàng bán”.
Trị giá vốn hàng bán: Là toàn bộ các chi phí liên quan đến quá trình bán hàng gồm có trị giá vốn của hàng xuất kho để bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng bán ra trong kỳ. Việc xác định chính xác trị giá vốn hàng bán là cơ sở để tính kết quả hoạt động kinh doanh. Đối với hàng hóa, giá vốn hàng bán là trị giá mua thực tế bao gồm giá mua cộng chi phí thu mua của hàng hóa tiêu thụ.