CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản có liên quan 1.1 Nhân lực và nguồn nhân lực 1.1 Nhân lực Nhân lực là một trong những khái niệm cơ bản của hoạt động quản trị nhân lực tuy nhiên nó cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì “Nhân lực là sức người, nói về mặt dùng trong lao động sản xuất” [13, tr 53]. Tuy nhiên nếu chỉ định nghĩa nhân lực là sức người thì còn khá chung chung và nó chưa gắn với hoạt động quản trị của doanh nghiệp.
Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) thì “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” [2, tr 12]. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực và trí lực thể hiện việc tận dụng sức lực và tri thức của con người trong quá trình lao động sản xuất. Trí lực được thể hiện ở suy nghĩ, hiểu biết của con người đối với thế giới xung quanh.
Còn thể lực được thể hiện ở sức khỏe, khả năng làm việc bằng cơ bắp chân tay. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ dinh dưỡng, chế độ làm việc, chế độ nghỉ ngơi và y tế. Thể lực của con người phụ thuộc vào vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính … Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người. Xét tại bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào thì nhân lực là toàn bộ nguồn nhân lực của tổ chức, doanh nghiệp đó.
Do đó, có thể nói rằng nhân lực của tổ chức, doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp đó. Luan van 8 Nói như vậy, nhân lực là toàn bộ khả năng thể lực và trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động sản xuất.2 Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là khái niệm trong đó con người được xem xét như một nguồn lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, theo từng cách tiếp cận riêng thì các nghiên cứu đề cập tới nguồn nhân lực với những góc độ và quan điểm khác nhau. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa thì “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp” [13, tr 51].
Theo Nguyễn Tiệp (2008) thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” [14, tr 24]. Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008) thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh.
Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [2, tr 17].
Các khái niệm trên phần nào đã phản ánh nội hàm rất rộng của khái niệm nguồn nhân lực, trong đó yếu tố khả năng sáng tạo được nhìn nhận như một đặc trưng riêng và chỉ có ở nguồn lực con người. Luan van 9 Các khái niệm trên chủ yếu mô tả khái niệm nguồn nhân lực gắn với xã hội hay cộng đồng nên khi gắn khái niệm nguồn nhân lực với các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động kinh doanh trong luận văn này sẽ được hiểu như sau: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng lao động – là tổng thể những tiềm năng của con người bao gồm thể lực, trí lực, nhân cách con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một doanh nghiệp hoặc một cơ cấu kinh tế xã hội nhất định. Ngày nay, nguồn nhân lực còn bao hàm khía cạnh số lượng, chất lượng không chỉ những người trong độ tuổi lao động mà cả những người ngoài độ tuổi lao động cũng tham gia vào quá trình lao động sản xuất. Nguồn lao động trong doanh nghiệp là tập hợp những người lao động, làm việc trong doanh nghiệp đó.
Nguồn lao động được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.2 Tuyển dụng nhân lực Theo Nguyễn Thanh Hội (2010) thì “tuyển dụng là quá trình tìm kiếm và lựa chọn đúng người để thỏa mãn các nhu cầu lao động và bổ sung cho lực lượng lao động hiện có” [12, tr 37]. Theo Bùi Văn Danh, Nguyễn Văn Dũng, Lê Quang Khôi (2011) thì “tuyển dụng là quá trình lựa chọn các cá nhân có đủ điều kiện cần thiết để đảm nhận các công việc trong tổ chức” [3, tr 27]. Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Văn Điềm (2007) thì “tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn từ những nguồn khác nhau những nhân viên có đủ khả năng đảm nhiệm những vị trí mà doanh nghiệp cần tuyển” [7, tr 19]. Các khái niệm trên mặc dù có các điểm khác nhau nhưng nhìn chung lại thì tuyển dụng nhân lực là quá trình gắn với việc tìm kiếm, thu hút những người có khả năng từ những nguồn khác nhau và lựa chọn người lao động phù hợp với vị trí công việc còn trống trong tổ chức.
Tuyển dụng nhân lực là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Nói cách khác, tuyển Luan van 10 dụng nhân lực là hoạt động liên quan đến quá trình cung ứng nhân lực cho doanh nghiệp. Đó là quá trình cung cấp một yếu tố đầu vào quan trọng và đặc biệt cho doanh nghiệp chính là yếu tố con người. Theo Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải (2010) thì “tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp” [6, tr 22].
Do yêu cầu về mức độ chuyên sâu nên luận văn này chỉ đi sâu và tập trung vào nghiên cứu hoạt động tuyển dụng về mặt quy trình, theo đó: Tuyển dụng là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức. Đồng thời, là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được.2 Vai trò của tuyển dụng nhân lực Tuyển dụng nhân lực là một hoạt động quan trọng của doanh nghiệp, nó có ý nghĩa to lớn, có tính chất quyết định đến sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Tuyển dụng nhân lực có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp, người lao động và xa hơn là cả sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.1 Đối với doanh nghiệp Tuyển dụng nhân lực là hoạt động nhằm bổ sung nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu kinh doanh hiệu quả nhất: mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh; phát triển đội ngũ đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế… Tuyển dụng nhân lực góp phần quan trọng vào việc tạo ra “đầu vào” chất lượng để đáp ứng đòi hỏi về nhân lực của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không những có được người lao động phù hợp với yêu cầu làm việc mà người được tuyển cũng sẽ thành công trong công việc. Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Luan van 11 Tuyển dụng được nhân lực tốt cho phép doanh nghiệp hoàn thành được kế hoạch kinh doanh đã định. Nhiều nhà kinh doanh nổi tiếng từng khẳng định rằng, thành công của họ phần lớn là nhờ đã tuyển dụng được những người cộng sự tài giỏi hơn bản thân mình.
Tuyển dụng nhân lực tốt giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách của doanh nghiệp. Bài học thực tế cho thấy không ít doanh nghiệp thiếu quan tâm đến công tác tuyển dụng nhân lực mà phải vứt bỏ nhiều tiền và công sức.2 Đối với người lao động Tuyển dụng là phương tiện để đưa những người có nhu cầu lao động tham gia thị trường lao động. Thông qua tuyển dụng, người lao động sẽ chính thức gia nhập lực lượng lao động của doanh nghiệp hay tổ chức mà họ được tuyển dụng. Tuyển dụng nhân lực tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền có việc làm và nghĩa vụ lao động của mình.
Tuyển dụng nhân lực làm cho người lao động trong doanh nghiệp hiểu rõ thêm về triết lý, quan điểm của giới quản trị và qua đó định hướng cho họ. Tạo ra không khí thi đua, tinh thần cạnh tranh trong nội bộ người lao động của doanh nghiệp. Công tác tuyển dụng của tổ chức tốt sẽ mang lại cho người lao động nhiều lợi ích vì họ được đánh giá đúng năng lực, trình độ, được bố trí vào công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng … cũng nhờ đó mà người lao động tích cực và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của tổ chức.