CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHỆ 4. Khái niệm, phân loại, đặc điểm của đơn vị sự nghiệp 1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp Theo Điều 2 nghị định 60/2020/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 21/06/2020 “Quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập”, “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nước”. Như vậy, Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước có quyết định thành lập và giao cho thực hiện các nhiệm vụ thuộc về hoạt động sự nghiệp nhằm cung cấp các hàng hóa dịch vụ công đáp ứng cho nhu cầu xây dựng và phát triển mỗi ngành, mỗi lĩnh vực hay toàn bộ nên kinh tế.
Các ĐVSNCL có hoạt động bằng nguồn kinh phí Nhà nước cấp, cấp trên cấp hoặc các nguồn kinh phí khác như thu sự nghiệp, phí, lệ phí, thu từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nhận viện trợ, biếu, tặng theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho. Kinh phí cấp cho hoạt động của ĐVSNC chủ yếu từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp. Ngoài ra đơn vị có thể khai thác tạo thêm nguồn thu hợp pháp để trang trải một phần chi phí hoặc toàn bộ chi phí thường xuyên của đơn vị.2 Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp Đặc điểm hoạt động sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp công bao gồm: hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ. Hoạt động sự nghiệp là hoạt động chủ yếu của các đơn vị và được Nhà nước giao chức năng, nhiệm vụ thực hiện dịch vụ công ích để phục vụ xã hội, phi lợi nhuận.
Hoạt động sản xuất kinh doanh cung ứng dịch vụ là hoạt động mở thêm của các đơn vị sự nghiệp công được phép tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ trên cơ sở lấy thu bù chi và có tích lũy nhằm tăng thu nhập cho người lao động và đáp ứng nhu cầu của xã hội.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp So với Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ đang được áp dụng trước đây, NĐ 60/2020/NĐ-CP ngày 21/6/2020 của Chính Phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập vẫn chia đơn vị SNC thành 4 nhóm, gồm: đơn vị SNC tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị SNC tự bảo đảm chi thường xuyên, đơn vị SNC tự bảo đảm 1 phần chi thường xuyên và đơn vị SNC do ngân sách bảo đảm chi thường xuyên. Tuy nhiên nội hàm các nhóm có sự thay đổi, đặc biệt là với nhóm 4 hiện nay theo NĐ 60 không được trích lập các quỹ nữa. Đây là điểm khác biệt đáng lưu ý trên lộ trình sửa đổi TT107 sắp tới của Bộ Tài Chính. Theo NĐ 60/2020/NĐ - CP/NĐ-CP ngày 21/06/2020, căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp thì đơn vị sự nghiệp công được phân loại để thực hiện quyên tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính thành ba loại: - ĐVSN công tự đảm bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư: là đơn vị có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%, mức tự đảm bảo chi đầu tư bằng hoặc lớn hơn mức trích khấu hao và hao mòn tài sản cố định của đơn vị.
- ĐVSN công tự bảo đảm chi thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100% và chưa tự bảo đảm chi đầu tư từ nguồn Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn thu phí được để lại chi theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí, các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. - ĐVSN công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên từ 10%-dưới 100% và được phân loại: + Đơn vị tự bảo đảm từ 70% đến dưới 100% chi thường xuyên; + Đơn vị tự bảo đảm từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên; + Đơn vị tự bảo đảm từ 10% đến dưới 30% chi thường xuyên - ĐVSN công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên là ĐVSN công không có nguồn thu sự nghiệp hoặc ĐVSN công có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị dưới 10%. 8 Xét trên góc độ quản lý tài chính, có thể chia trong cùng một ngành theo hệ thống dọc thành các đơn vị dự toán: - Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân giao. Đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc; chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc theo quy định.
- Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới theo quy định. - Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc (nếu có) theo quy định. - Đơn vị dự toán dưới cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II, cấp II với cấp I. Việc đăng ký, phân loại các đơn vị sự nghiệp có thu được ổn định trong thời gian 03 năm, sau thời hạn 03 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp.
Trường hợp đơn vị có biến động về nguồn thu hoặc nhiệm vụ chi làm thay đổi cơ bản mức tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên thì được xem xét điều chỉnh việc phân loại trước thời hạn. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ hướng dẫn việc đăng ký, phân loại và điều chỉnh việc phân loại các đơn vị sự nghiệp có thu quy định tại Điều này 1.2 Vai trò và nguyên tắc tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp Tổ chức kế toán tại đơn vị HCSN có những vai trò chủ yếu sau đây: 9 - Thu nhận, phản ánh, xử lý và tổng hợp thông tin về nguồn kinh phí cấp, được tài trợ, được hình thành từ các nguồn khác và tình hình sử dụng các khoản kinh phí, các khoản thu tại đơn vị theo đúng chuẩn mực và chế độ kế toán. - Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của nhà nước (NN), kiểm tra việc quản lý sử dụng các vật tư tài sản của đơn vị, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật thu, nộp Ngân sách, chấp hành kỷ luật thanh toán và chế độ chính sách của NN. - Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị dự toán cấp dưới, tình hình chấp hành dự toán thu chi và quyết toán của đơn vị cấp dưới.
- Phản ánh đầy đủ, chính xác và toàn diện mọi khoản vốn, quỹ, kinh phí, tài sản và mọi hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh ở đơn vị. Yêu cầu và nguyên tắc tổ chức kế toán Trong quản lý, kế toán được nhìn nhận là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, sự vận động tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong đơn vị, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị. Để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý đắc lực, thì vấn đề tổ chức kế toán hợp lý và khoa học là một trong những tiền đề tiên quyết của các đơn vị.
Vì vậy, tổ chức kế toán phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Một là, tổ chức hợp lý bộ máy kế toán ở đơn vị phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện tổ chức hoạt động, tổ chức quản lý và phân cấp quản lý tài chính ở đơn vị, đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng, đảm bảo hoàn thành mọi nội dung công việc kế toán của đơn vị với chi phí tiết kiệm nhất. Thực hiện kế hoạch hóa công tác kế toán, có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng cho từng nhân viên kế toán. Xác định được mối quan hệ công việc giữa bộ phận kế toán với các bộ phận quản lý khác trong đơn vị. - Hai là, xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán với các bộ phận quản lý khác trong đơn vị về các công việc liên quan đến công tác kế toán và thu nhận, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính liên quan cho các nhà quản lý.
- Ba là, tổ chức vận dụng chế độ kế toán, thông lệ kế toán, Luật Kế toán đã ban 10 hành và được thừa nhận với việc lựa chọn một hình thức kế toán phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị.