Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập - Theo Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010: “ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân.
Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”.[10] - Theo giáo trình Quản lý Tài chính công: “ĐVSNCL là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm”.130-131 - Theo nghĩa rộng: ĐVSNCL là các tổ chức được cơ quan có thẩm quyền của Đảng, cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, ý tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Có 3 cách để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: - Phân loại theo cấp ngân sách - Phân loại theo lĩnh vực hoạt động - Phân loại theo khả năng tự đảm bảo kinh phí e 7 a) Phân loại theo cấp ngân sách: - Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do các cấp chính quyền giao, phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc. Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị có trách nhiệm quản lý kinh phí của toàn bộ ngành và trực tiếp giải quyết các vấn đề có liên quan đến kinh phí với cơ quan tài chính.
Thuộc đơn vị dự toán cấp I là các Bộ ở Trung ương, các Sở ở tỉnh, thành phố, các phòng ở cấp quận, huyện. - Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III, tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới. Đơn vị dự toán cấp II là các đơn vị thuộc đơn vị dự toán cấp I và là đơn vị trung gian thực hiện nhiệm quản lí kinh phí nối liền giữa đơn vị dự toán cấp I với đơn vị dự toán cấp III. - Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách, nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II), có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị dự toán cấp dưới (nếu có).
Đơn vị dự toán cấp III là các đơn vị dự toán cấp cơ sở trực tiếp chi tiêu kinh phí để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của mình, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quản lí kinh phí tại đơn vị dưới sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp trên. - Đơn vị dự toán cấp dưới của cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III e 8 với cấp II và cấp II với cấp I. Việc phân chia các đơn vị dự toán thành các cấp khác nhau trong hệ thống các đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN) chỉ có ý nghĩa tương đối. Xác định một đơn vị HCSN thuộc loại hình cấp dự toán nào là tùy thuộc vào mối quan hệ giữa nó với các đơn vị dự toán khác trong cùng ngành hoặc với cơ quan tài chính.
Thứ bậc này sẽ bị thay đổi cùng với sự thay đổi về cơ chế phân cấp quản lý kinh tế tài chính - đặc biệt là cơ chế phân cấp quản lý ngân sách. b) Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực khoa học và công nghệ - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế, dân số và gia đình - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực văn hóa thông tin - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, thông tấn - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thể dục thể thao - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực kinh tế c) Phân loại theo khả năng tự đảm bảo kinh phí: Mức tự bảo đảm chi thường xuyên (%) = (Tổng nguồn tài chính chi thường xuyên/Tổng số chi thường xuyên) x 100% Theo đó, mức độ tự đảm bảo chi hoạt động thường xuyên từ nguồn thu sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp được chia thành: - Đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên lớn hơn 100% và tự bảo đảm chi đầu tư từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật - Đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo chi thường xuyên: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100% e 9 - Đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần chi thường xuyên: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100% - Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên từ 10% trở xuống hoặc đơn vị không có nguồn thu. Đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập Đặc điểm hoạt động sự nghiệp của các ĐVSNCL bao gồm hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), cung ứng dịch vụ. Hoạt động sự nghiệp là hoạt động chủ yếu của các đơn vị và được Nhà nước giao chức năng, nhiệm vụ thực hiện dịch vụ công ích để phục vụ xã hội, phi lợi nhuận.
Hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ là hoạt động mở thêm của các đơn vị trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao, tại các ĐVSNCL được phép tổ chức hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ trên cơ sở lấy thu bù chi và có tích lũy nhằm tăng thu nhập cho người lao động và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Sản phẩm của các ĐVSNCL là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn liền với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hoá, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội… Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng, đại bộ phận các sản phẩm của ĐVSNCL là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan toả, truyền tiếp. Hoạt động sự nghiệp trong các ĐVSNCL thường gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước.
Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. NỘI DUNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Nội dung quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập a) Lập dự toán thu, chi ngân sách Dự toán chi thường xuyên được lập trên cơ sở nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Việc lập dự toán ngân sách của các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính thực hiện theo quy định.
Có hai phương pháp lập dự toán thường được sử dụng là phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ và phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ. Mỗi phương pháp đều có những đặc điểm riêng cùng những ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng khác nhau. - Phương pháp lập trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của kỳ liền trước và điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dự kiến. Như vậy phương pháp này rất rõ ràng, dễ hiểu và dễ sử dụng, được xây dựng tương đối ổn định, tạo điều kiện, cơ sở bền vững cho nhà quản lý trong đơn vị trong việc điều hành mọi hoạt động.
- Phương pháp lập dự toán cấp không là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch, phù hợp với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị chứ không dựa trên kết quả hoạt động thực tế của năm trước. Đây là phương pháp lập dự toán phức tạp hơn do không dựa trên số liệu, kinh nghiệm có sẵn. Dự toán ngân sách của các ĐVSNCL được gửi đến các cơ quan tài chính cấp trên để cơ quan tài chính giao dự toán ngân sách cho các đơn vị. e 11 b) Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi Trên cơ sở dự toán ngân sách được giao, các ĐVSNCL tổ chức triển khai thực hiện.