Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY THAM MƯU, GIÚP VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG 1. Khát quát Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và tổ chức bộ máy tham mưu, giúp việc thực hiện Chương trình 1. Khái quát Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Chương trình MTQG là một danh từ, tên tiếng Anh là “National target program”. Theo khoản 9 Điều 4 Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 ngày 13/6/2019, Chương trình MTQG là chương trình đầu tư công với mục đích thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của từng giai đoạn cụ thể trong phạm vi cả nước.
Đồng thời, tại Điều 7 của Luật cũng quy định rằng, Quốc hội là chủ thể có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình MTQG, trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định đầu tư chương trình. Hiện nay, ở nước ta đang triển khai đồng thời 03 Chương trình MTQG là: Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025, Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025. Chương trình MTQG xây dựng NTM là một chương trình tổng thể, bao quát, phổ rộng trên các lĩnh vực về phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng do Quốc hội phê duyệt và Chính phủ triển khai thực hiện trên phạm vi địa bàn nông thôn toàn quốc. Đến nay, Chương trình đã triển khai 02 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 và Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016.
Theo đó, mục tiêu chung của Chương trình nhằm: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp 12 lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chương trình cũng đề ra mục tiêu cụ thể như: đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM và năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn NTM (theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM). Giai đoạn 2: Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021- 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022. Mục tiêu tổng quát của Chương trình là “Tiếp tục triển khai Chương trình gắn với thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, quá trình đô thị hoá, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững; thực hiện xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu và NTM cấp thôn, bản.
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, thúc đẩy bình đẳng giới. Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ và từng bước hiện đại, bảo đảm môi trường, cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững”. Mục tiêu cụ thể mà Chương trình đề ra đến năm 2025 đó là phấn đấu đạt được các chỉ tiêu theo các cấp độ (tỉnh, huyện, xã) và theo các mức độ (đạt chuẩn, nâng cao, kiểu mẫu) phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng, miền trên cả nước; đặc biệt quan tâm đến các xã vùng đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Trọng tâm cần tập trung phấn đấu về đạt chuẩn NTM trong cả nước là có tối thiểu 80% số xã, tối thiểu 50% huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tối thiểu 02 đơn vị cấp huyện tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt.
Trên cơ sở đó, cần duy trì và nâng cao các chỉ tiêu, tiêu chí để đạt mức nâng cao và mức kiểu mẫu để phấn đấu về đích cả nước có khoảng từ 17 - 19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 13 được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM và các mục tiêu cụ thể khác đã đề ra. So với giai đoạn 2010-2020, Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025 được bổ sung thêm nhiều điểm mới. Chương trình được thiết kế với 11 nội dung thành phần, 54 nội dung cụ thể với 06 chuyên đề phục vụ xây dựng NTM: 1) Chương trình mỗi xã một sản phẩm; 2) Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch; 3) Chương trình phát triển du lịch nông thôn; 4) Chương trình chuyển đổi số; 5) Chương trình khoa học và công nghệ; 6) Chương trình nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện tiêu chí an ninh, trật tự. Các chuyên đề được triển khai liên kết giữa các nội dung nhằm mục tiêu tái cấu trúc ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn hiệu quả, đẩy mạnh tiến trình đô thị hóa, đi vào chiều sâu và bền vững; thực hiện xây dựng NTM với nhiều cấp độ như đạt chuẩn, nâng cao, kiểu mẫu; nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn, khuyến khích bình đẳng giới; xây dựng, tái cấu trúc và đồng bộ hạ tầng kinh tế - xã hội, cơ cấu tổ chức sản xuất hợp lý, phát triển song song giữa sản xuất nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ, giữa phát triển nông thôn với thành thị; bảo vệ môi trường cảnh quan nông thôn xanh tươi, sạch đẹp, phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, bảo đảm an ninh quốc phòng và trật tự xã hội.
Đây là những thay đổi mới so với giai đoạn trước nhưng sẽ bảo đảm NTM phát triển ổn định, lâu dài, bền vững, nâng tầm chất lượng cuộc sống cho người dân. Sau gần 15 năm triển khai, Chương trình MTQG xây dựng NTM đã đạt và vượt các mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có được những thành tựu đó, có sự đóng góp rất lớn của bộ máy tham mưu giúp việc thực hiện Chương trình từ Trung ương tới địa phương, trong đó có tỉnh Hòa Bình. Khái quát về tổ chức bộ máy tham mưu, giúp việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới a) Khái quát về tổ chức bộ máy, chức năng tham mưu, giúp việc - Tổ chức bộ máy Có nhiều quan niệm về tổ chức.
Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó”; hay cụ thể hơn, “Tổ chức là tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung [59]. Cũng có cách hiểu, tổ chức là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Để tổ chức hoạt động hiệu quả thì phải thiết lập một bộ máy để quản lý và điều hành mọi hoạt động của tổ chức. Bộ máy là hình thức tồn tại của tổ chức, biểu thị việc sắp xếp theo trật tự nào đó của mỗi bộ phận của tổ chức cùng các mối quan hệ giữa chúng.
Bộ máy là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí theo từng cấp nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ mục đích chung đã xác định của tổ chức. Nói cách khác, bộ máy gồm các bộ phận, con người với chức trách, nhiệm vụ cụ thể và mối quan hệ được xác định rõ ràng, trong đó người đứng đầu có những thẩm quyền nhất định trong việc đưa ra quyết định; theo đó mỗi cá nhân đảm nhận những vai trò, công việc cụ thể để cùng nỗ lực hoàn thành mục tiêu chung. Bộ máy là hình thức phân công lao động trong trong tổ chức vì bộ máy có tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản lý; một mặt phản ánh 15 tính chất, nhiệm vụ, chức năng của tổ chức, mặt khác nó tác động trở lại đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và cao hơn là phát triển tổ chức. Những yêu cầu đối với bộ máy của tổ chức là phải đảm bảo tính tối ưu, tính linh hoạt, tính tin cậy và tính kinh tế.
Tính tối ưu là giữa các khâu và các cấp quản lý đều thiết lập những mối liên hệ hợp lý với số lượng cấp quản lý ít nhất. Tính linh hoạt là bộ máy phải có khả năng thích ứng nhanh, linh hoạt với bất kỳ tình huống nào xảy ra trong tổ chức cũng như ngoài môi trường. Tính tin cậy là phải đảm bảo tính chính xác của tất cả các thông tin được sử dụng và nhờ đó bảo đảm sự phối hợp tốt nhất các hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận trong tổ chức. Và tính kinh tế thể hiện ở bộ máy phải sử dụng chi phí quản trị đạt hiệu quả cao nhất.
Tiêu chuẩn xem xét mối quan hệ này là mối tương quan giữa chi phí dự định bỏ ra và kết quả sẽ thu về. - Chức năng tham mưu, giúp việc của tổ chức Tham mưu là hiến kế, kiến nghị, đề xuất, đưa ra các ý tưởng độc đáo, sáng tạo có cơ sở khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu, những chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc đặt ra và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác ngắn hạn, dài hạn, hàng năm của cơ quan đơn vị đạt kết quả cao nhất [50].