CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG 1. Hoạt động thẩm định tài chính dự án trong cho vay của ngân hàng thương mại. Khái niệm cho vay dự án Thực chất cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Cho vay trung và dài hạn ( cho vay dự án): Là một dạng cho vay trung và dài hạn chủ yếu nhất của các ngân hàng thương mại. Đó là việc các ngân hàng thương mại hỗ trợ các khách hàng có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các dự định định đầu tư mà thời gian thu hồi vốn đầu tư vượt quá 12 tháng. Hoạt động cho vay mang lại cho ngân hàng rất nhiều rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt là cho vay trung và dài hạn theo dự án.
Tuy nhiên, ngày nay, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho các doanh nghiệp mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ. đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, để tồn tại và phát triển nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao. Và trong đó thì lại phải nói đến cho vay theo các dự án.
Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định.nhằm thực hiện dự án nhất định, có thể xin vay ngân hàng. Một trong những yêu cầu của ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là điều kiện để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp. 4 Đặc điểm của loại hình này là có số vốn cho vay lớn, thời gian cho vay dài, chịu nhiều biến động và do đó có độ rủi ro cao.
Và cũng do đặc điểm này mà ngân hàng thường đòi hỏi phải có bảo lãnh, theo đó ngân hàng có thể thu hồi khoản vay từ tổ chức bảo lãnh khi khách hàng không có đủ khả năng trả nợ. Đồng thời việc cho vay đòi hỏi sự tham gia của một số tổ chức tài chính khác nhằm chia sẻ rủi ro. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác ngày càng gay gắt. Vì thế, để Ngân hàng thắng trong cuộc cạnh tranh giành khách hàng này, ngân hàng sẽ phải tính đến biện pháp cho vay mà không cần bảo lãnh.
Nhưng đây là một vấn đề rất khó khăn và nan giải. Vậy để ngân hàng vừa tăng được khả năng cạnh tranh mà vẫn bảo đảm cho khoản thu nhập xứng đáng và bảo đảm an toàn vốn thì ngân hàng phải có những dự án tốt. Ngày nay, trong quản trị hoạt động Ngân hàng thương mại, các ngân hàng đều chú trọng tới việc làm giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra với các dự án cho vay đầu tư. Quá trình cho vay của một dự án thường gồm nhiều khâu: từ thẩm định, xét duyệt, quyết định cho vay tới kiểm tra sử dụng vốn vay và theo dõi, xử lý thu hồi nợ sau khi cho vay.
Trong đó, các Ngân hàng thương mại thường xem giai đoạn trước khi cho vay - giai đoạn phân tích tín dụng, thẩm định dự án - là quan trọng nhất. Kết quả của khâu này sẽ mang tính quyết định đối với một khoản cho vay. Đặc biệt, thẩm định dự án chính là khâu mà ngân hàng phải quan tâm hàng đầu để đảm bảo tránh được các rủi ro của một khoản cho vay, tạo sự an toàn và lành mạnh trong hoạt động của ngân hàng. Thẩm định dự án đầu tư Một mặt, vì liên quan đến một thực tế trong tương lai, bất kì một dự án đầu tư nào cũng mang tính phỏng định và mang trong mình nó một độ bất định.
Mặt khác, một dự án đầu tư thường do chủ dự án lập hoặc thuê các tư vấn lập trên cơ sở các ý đồ kinh doanh và mong muốn của chủ dự án. Các nhà soạn thảo thường đứng trên góc độ hẹp đe nhìn nhận các vấn đề của dự án. Do vậy, một dự án dù soạn thảo kỹ đến đâu (theo đánh giá của người lập) cũng mang tính chủ quan của 5 người soạn thảo và không xem xét, dự tính, đánh giá hết được tất cả các khía cạnh liên quan hoặc đôi khi ý đồ của nhà đầu tư mà một số khía cạnh không được đề cập đến. Bên cạnh đó, Quyết định đầu tư hay tài trợ theo một dự án đầu tư là một Quyết định tài chính dài hạn, đòi hỏi lượng vốn lớn, thời gian hoàn trả vốn dài, chịu ảnh hưởng và chi phối bởi nhiều yếu tố thị trường nên chủ dự án và nhà tài trợ cũng cần xem xét, đánh giá, kỹ càng trước khi Quyết định đầu tư.
Hơn nữa, dự án đầu tư trước khi được thực hiện sẽ còn liên quan, ảnh hưởng tới lợi ích của nhiều bên liên quan khác nên nó cần được xem xét từ nhiều phía của các bên liên quan để thấy được lợi ích thực do dự án đầu tư đem lại cho các bên, cho xã hội. Vậy: Thẩm định dự án đầu tư là việc phân tích, đánh giá, xem xét một các khách quan, có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án để từ đó ra các Quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hay ra các Quyết định tài trợ. Về phía chủ đầu tư: Việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tối ưu, có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện, khả năng tự có cũng như khả năng huy động các nguồn vốn, và giảm chi phí chuẩn bị cũng như tiến hành hoạt động đầu tư đem lại lợi nhuận cao trong tương lại để Quyết định đầu tư. Về phía các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước: Việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan này đánh giá được tính cần thiết và phù hợp của dự án với chiến lược, chương trình, kế hoạch kinh tế quốc dân thông qua các chương trình phát triển liên kết, kế hoạch sản xuất ngành, địa phương, các công trình hỗ trợ trên các mặt: Mục tiêu, quy hoạch và hiệu quả.
Nó giúp xác định được cái lợi, cái hại của dự án trên các mặt khi đi vào hoạt động như công nghệ cũ, vốn, gây ô nhiễm môi trường và các lợi ích kinh tế xã hội khác. Về phía các nhà tài trợ: Việc thẩm định sẽ giúp họ đánh giá, xem xét lại các chi phí và hiệu quả của dự án, các luồng dịch chuyển về giá trị trên cơ sở đó có chấp nhận các kế hoạch trả nợ không và từ đó có Quyết định tài trợ đúng đắn. Điều này 6 giúp cho các nhà tài trợ hỗ trợ chủ dự án sử dụng đồng vốn có hiệu quả đồng thời bảo đảm sự an toàn tài chính cho chính nhà tài trợ. Tài chính của dự án Đối với bất kỳ một dự án nào khi được đưa vào xem xét để thực hiện thì vấn đề được quan tâm hàng đầu là tính khả thi của dự án.
Tính khả thi của dự án sẽ được thể hiện thông qua sự phù hợp về mặt kỹ thuật, mặt kinh tế và tài chính của dự án đối với nền kinh tế, với sự quản lý của nhà nước, với nhà đầu tư và với chủ dự án. Trong đó tuỳ theo từng dự án được thiết kế phục vụ cho các mục đích khác nhau (như dự án vì cộng đồng, dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,.) mà những tiêu chí về kinh tế, về kĩ thuật hay về tài chính sẽ được đề cao. Vốn đầu tư của dự án. Câu hỏi đầu tiên đặt ra đối với nhà đầu tư khi họ quyết đầu tư vào dự án đó là dự án này cần bao nhiêu vốn đầu tư.
Phân tích nhu cầu vốn đầu tư vào dự án thường bao gồm phân tích nhu cầu vốn đầu tư cố định và vốn lưu động. Vốn cố định là những khoản chi phí đầu tư ban đầu và chi phí đầu tư vào tài sản cố định. Các khoản chi phí này được phân bổ vào giá thành sản phẩm hàng hóa thông qua hình thức khấu hao. - Chi phí đầu tư ban đầu: là những khoản chi phí phát sinh trước khi dự án thực hiện đầu tư: chi phí về việc lập dự án khả thi, chi phí về tuyển dụng, đào tạo, chi phí khảo sát thiết kế… - Chi phí đầu tư vào tài sản cố định bao gồm: việc mua máy móc thiết bị, chi phí chuyển giao công nghệ, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo cho hoạt động của dự án Xác định lượng vốn cố định của dự án để làm cơ sở cho việc tính toán mức khấu hao hàng năm, là một khoản mục trong giá thành sản xuất hàng năm của dự án.
Việc ước lượng vốn cố định phải gắn với tiến độ đầu tư để có kế hoạch huy động vốn thích hợp và tính toán đúng hiệu quả đầu tư. 7 Vốn lưu động: cũng tương ứng như một khoản vốn đầu tư. Các chuyên gia kỹ thuật thường tính toán chính xác các khoản đầu tư liên quan đến tài sản cố định nhưng lại thường quên tính toán nhu cầu tài trợ mà chu kỳ khai thác dự án đòi hỏi đó là nhu cầu vốn lưu động. Chẳng hạn như nguyên vật liệu tuy không được chế biến ngay, cũng không phải luôn có sẵn vì vậy kho phải được thiết lập và nó cần được tài trợ.
Các thành phẩm có thể không được tiêu thụ tức thì, ngay cả khi tiêu thụ có thể nó không được thanh toán ngay (AR – khoản phải thu), do vậy không chỉ cần tài trợ cho hàng tồn kho (AI) mà cả cho khoản trả chậm của khách hàng. Ngược lại, nhà cung cấp có thể cho doanh nghiệp trả chậm (AP – khoản phải trả) do vậy nó tự động tài trợ một phần cho tài sản lưu động của dự án.