mở đầu cho ngành luật nhân đạo quốc tế 1917 Cách mạng tháng mười Nga 1919 Hội quốc liên và Tổ chức Lao động thế giới (ILO) được thành lập 1945 Liên hợp quốc ra đời, thông qua Hiến chương Liên hợp quốc 1948 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1966 Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1968 Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ nhất tại Têhêran (Iran) 1993 Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai tại Viên (Áo), thông qua Tuyên bố Viên và Chương trình hành động 2002 Quy chế Rô ma có hiệu lực, Tòa án hình sự quốc tế (thường trực) được thành lập. 2006 Cải tổ bộ máy quyền con người của Liên hợp quốc, thay thế Ủy ban quyền con người bằng Hội đồng quyền con người Nguồn: Khoa Luật – ĐHQGHN (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, tr.56-57, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, những nguyên tắc về quyền con người trở thành những quy tắc ứng xử, những chuẩn mực pháp lý quốc tế được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như Hiến chương Liên hợp quốc, trong các tuyên ngôn, các công ước quốc tế mà các thành viên tham gia có nghĩa vụ bắt buộc phải tuân theo (theo thống kê, Liên hợp quốc đã thông qua trên 70 văn bản quốc tế về lĩnh vực quyền con người trong đó có 25 công ước). Hệ thống đồ sộ các văn kiện pháp lý quốc tế ấy làm cho các quyền con người có căn cứ để được tôn trọng và bảo vệ.
Ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc bảo đảm quyền con người của các quốc gia thể hiện ở ba nghĩa vụ cụ thể là: Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng (obiligation to respect): Các nhà nước có nghĩa vụ kiềm chế không can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc hưởng thụ các quyền con người của các chủ thể quyền. Nghĩa vụ này là nghĩa vụ thụ động vì nó không bắt buộc các nhà nước phải chủ động đưa ra những sáng kiến, biện pháp, chương trình hỗ trợ các công dân trong việc hưởng thụ quyền. Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ (obligation to protect): Các nhà nước có nghĩa vụ ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba.
Nghĩa vụ này là nghĩa vụ chủ động vì để ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba, nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp và xây dựng những cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm. Thứ ba, nghĩa vụ thực hiện (obligation to fulfil): Các nhà nước có nghĩa vụ phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân hưởng thụ đầy đủ các quyền con người. Đây cũng được coi là nghĩa vụ chủ động, bởi nó yêu cầu các nhà nước phải có những kế hoạch, chương trình cụ thể để bảo đảm cho mọi công dân có thể hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con người. Như vậy, nhìn ở góc độ, cấp độ, tính chất nào thì quyền con người cũng được xác định như những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuân thủ.
Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội, trong mọi giai đoạn lịch sử. Quyền dân sự trong phân loại về quyền con người Trong lý luận nhận thức về quyền con người, quyền dân sự cùng với các quyền chính trị được xếp vào thế hệ thứ nhất của quyền con người. Sự ra đời các quyền này gắn liền với giai đoạn phát triển các học thuyết về các quyền tự nhiên, với sự bùng nổ cách mạng đòi giải phóng con người, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.
Các quyền này được quy định tại Điều 2 đến Điều 21 Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới và trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Quyền dân sự được đề cập ở đây là quyền con người về dân sự, là các quyền mang những thuộc tính như: i) Tính thống nhất và gắn bó hữu cơ; ii)Tính không thể phân chia của quyền con người; iii) Tính không thể chuyển nhượng; iv) Tính phổ biến. Khi nghiên cứu về quyền con người, người ta phân loại quyền con người theo nhiều cách khác nhau tùy vào góc độ, mục đích nghiên cứu, cách phân loại cơ bản và chủ yếu nhất hiện nay là phân loại quyền con người theo thế hệ quyền con người hoặc theo lĩnh vực. Tuy nhiên, sự phân loại quyền con người chỉ có ý nghĩa tương đối vì bản chất của quyền con người là một thể thống nhất không phân chia.
Trong các văn kiện quốc tế hoặc trong các công trình khoa học, quyền con người được phân loại thành hai nhóm chính: nhóm các quyền dân sự - chính trị và nhóm các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa. Đây cũng là cách phân chia được sử dụng khi soạn thảo bộ luật nhân quyền quốc tế. Nhóm quyền dân sự - chính trị bao gồm các quyền như: quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; các quyền tự do 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cơ bản; quyền được bảo đảm an ninh cá nhân; quyền bình đẳng…; Nhóm quyền kinh tế - xã hội - văn hóa bao gồm quyền làm việc, quyền sở hữu, quyền kinh doanh, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được học tập và sáng tạo; quyền hoạt động văn hóa - nghệ thuật… Ngoài ra, quyền con người có thể được phân chia theo chủ thể của quyền. Có thể chia quyền con người ra thành quyền cá nhân; quyền của nhóm như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi…, và quyền tập thể như quyền dân tộc tự quyết và quyền của các dân tộc thiểu số.
Việc phân loại các quyền như vậy cho phép nhận rõ hơn đặc điểm, tính chất và những yêu cầu đặc thù trong việc bảo đảm mỗi loại quyền con người. Dưới các góc độ khác nhau (lịch sử - xã hội, triết học, chính trị, pháp lý…) sẽ có các cách phân loại khác nhau (Phân loại theo lĩnh vực; phân loại theo chủ thể của quyền; phân loại theo một số tiêu chí khác…) tuy nhiên phân loại chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và thực thi, chứ không nhằm xếp loại theo thứ tự ưu tiên hay tầm quan trọng của các quyền con người, bởi việc bảo đảm tất cả các quyền con người đều nằm trong mối liên hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau và đều phải coi trọng như nhau.2: Một số các cách phân loại quyền con ngƣời TT Tiêu chí phân loại Các loại quyền 1. Lĩnh vực Quyền chính trị, quyền dân sự Quyền kinh tế, quyền xã hội, quyền văn hóa 2. Chủ thể Quyền cá nhân Quyền của nhóm 3.
Quan điểm về nguồn gốc Quyền tự nhiên Quyền luật định 4. Mức độ pháp điển hóa Quyền cụ thể Quyền hàm chứa 5. Phương thức bảo đảm Quyền chủ động Quyền thụ động 6. Điều kiện hưởng thụ Quyền tuyệt đối Quyền có điều kiện 7.
Sự thừa nhận Quyền tự do Quyền đòi hỏi 8. Giới hạn áp dụng Quyền có thể bị hạn chế Quyền không thể bị hạn chế Nguồn: Khoa Luật – ĐHQGHN (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, tr.69, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để thực hiện trách nhiệm quốc gia thành viên của các Công ước Liên hợp quốc về quyền con người, việc nhận thức và nội luật hóa các quy định về quyền con người trong hệ thống luật pháp quốc gia là rất quan trọng. Từ góc độ pháp lý, có thể hiểu Luật nhân quyền quốc tế là một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn và tập quán pháp lý quốc tế xác lập, bảo vệ và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản cho mọi thành viên của cộng đồng nhân loại.
Luật Nhân quyền quốc tế bao gồm hàng trăm văn kiện pháp lý quốc tế về vấn đề này, kể cả những văn kiện mang tính ràng buộc (các công ước, nghị định thư) và các văn kiện không mang tính ràng buộc (các tuyên bố, tuyên ngôn, khuyến nghị, hướng dẫn…) trong đó bao gồm cả các văn kiện có hiệu lực toàn cầu và khu vực. Trong luận văn này tác giả chủ yếu đề cập đến hai văn kiện chủ yếu của Bộ luật quốc tế về nhân quyền bao gồm Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR - được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm 1966) để phân tích rõ hơn về quyền dân sự được quy định trong 02 văn bản này, đồng thời tìm hiểu rõ hơn việc nội luật hóa các quyền dân sự vào pháp luật Việt Nam, thông qua văn bản có tính pháp lý cao nhất là Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Có thể hiểu Quyền dân sự, theo “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948” của Liên hợp quốc, được xem là những giá trị của tất cả mọi người mà các nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ. Quyền dân sự thực chất là quyền tự do cá nhân, gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, như: Quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân; Quyền không bị bắt làm nô lệ; Quyền không bị tra tấn, quyền được đối xử nhân đạo; Quyền tự do đi lại và cư trú; Quyền có quốc tịch; Quyền kết hôn và xây dựng gia đình… Những quyền này đã được đưa vào Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị năm 1966.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.