Chương 1: Lý luận cơ bản về quá trình và tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong các Ngân hàng thƣơng mại (61 trang) - Chương 2: Thực trạng quá trình và tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong các Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc Việt Nam (57 trang) - Chương 3: Hoàn thiện quá trình và tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong các Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc Việt Nam (39 trang). 11 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUÁ TRÌNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Bản chất kiểm toán nội bộ và kiểm toán nội bộ Ngân hàng thƣơng mại Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng kiểm toán ra đời vào khoảng thế kỷ thứ ba trƣớc Công nguyên, gắn liền với nền văn minh Ai cập và La mã cổ đại.
Trải qua quá trình phát triển dài cùng với sự thay đổi của các hoạt động kinh tế xã hội, hoạt động kiểm toán đã dần hoàn thiện và trở thành một trong những công cụ quan trọng giúp con ngƣời đạt đƣợc những mục tiêu mong muốn.Thực chất “kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành kiểm tra các thông tin nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này so với các chuẩn mực đã đƣợc thiết lập” [1]. Nếu dựa vào loại hình (tổ chức) kiểm toán, thì kiểm toán đƣợc chia thành ba loại: kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập và kiểm toán nhà nƣớc. Kiểm toán nội bộ ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức Chính phủ và cả những tổ chức phi lợi nhuận. Trong thời kỳ đầu, nhu cầu thiết lập một chức năng đảm bảo nội bộ (internal assurance function) trong doanh nghiệp đƣợc đặt ra, nhằm giúp nhà quản lý soát xét thông tin tài chính phục vụ cho việc ra quyết định.
Lúc này trọng tâm công việc kiểm toán nội bộ là kiểm tra sự ghi chép kịp thời, chính xác của các nghiệp vụ, giảm thiểu những sai sót khi hạch toán các bút toán kép, cũng nhƣ ngăn chặn những gian lận về tiền lƣơng và tài sản có thể phát sinh trong doanh nghiệp. Bộ phận kiểm toán nội bộ đƣợc coi nhƣ là “tai và mắt” của nhà quản lý và đến năm 1986, kiểm toán nội bộ đã chuyển vai trò từ “kiểm toán vì nhà quản lý” sang“kiểm 12 toán của nhà quản lý” [40]. Theo chuẩn mực Hành nghề kiểm toán nội bộ do Học viện các kiểm toán viên nội bộ (IIA) ban hành tháng 5 năm 1978, thì “kiểm toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó” [2]. Trong những năm đầu sau khi IIA thành lập, hoạt động kiểm toán nội bộ vẫn chỉ đƣợc coi là một phần quan trọng trong sự mở rộng công việc của kiểm toán bên ngoài, với sự hạn chế về trách nhiệm trong hoạt động quản lý và điều hành doanh nghiệp.
Khi thị trƣờng chứng khoán phát triển, đứng trƣớc đòi hỏi cao hơn về độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính đƣợc niêm yết, vai trò và trách nhiệm của kiểm toán nội bộ đã mở rộng bao gồm cả việc phân tích, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm giúp nhà quản lý hoàn thiện các chính sách và thủ tục kiểm soát đối với hoạt động bên trong đơn vị. Đặc biệt sự ra đời của hàng loạt các đạo luật và báo cáo nhấn mạnh vào hoạt động kiểm soát nội bộ trên thế giới nhƣ: Luật chống hối lộ ở nƣớc ngoài của Mỹ năm 1977; báo cáo của Ủy ban quốc gia Mỹ về gian lận trong báo cáo tài chính (Treaway Commission Report, 1987); báo cáo của COSO 1992 (the Report of the Committee of Sponsoring Organization); cũng nhƣ sự xuất hiện của khung kiểm soát nội bộ của nhiều quốc gia nhƣ Anh, Mỹ, Canada.; sự thay đổi về điều lệ của thị trƣờng chứng khoán New York về vai trò của ban giám đốc các công ty niêm yết và Luật Sarbanes-Oxley (2002) đã làm tăng thêm tầm quan trọng của hoạt động kiểm toán nội bộ bởi lẽ chúng yêu cầu các doanh nghiệp phải duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả nhằm ngăn chặn gian lận, sai sót phát sinh. Từ đó chức năng kiểm toán nội bộ đƣợc mở rộng, kèm theo chi phí cho hoạt động này cũng gia tăng. Trong những năm đầu thập kỷ 21, từ sự sụp đổ của các tập đoàn lớn nhƣ Enrol, Worldcom… đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã bộc lộ rõ một cơ chế quản trị doanh nghiệp lỏng lẻo với hoạt động kiểm soát nội bộ yếu kém.
13 Để giúp các doanh nghiệp đạt đƣợc mục tiêu kiểm soát, kiểm toán nội bộ đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ hữu hiệu với chức năng đảm bảo và tƣ vấn cho nhà quản lý. Vai trò của kiểm toán nội bộ chuyển từ hoạt động đánh giá công tác quản lý sang hoạt động mang tính tƣ vấn và đƣa ra các đảm bảo mang tính khách quan cho các cấp quản lý [40]. Kiểm toán nội bộ đã tham gia trực tiếp vào chu trình quản trị doanh nghiệp, bao gồm chu trình hoạt động, thủ tục kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và báo cáo tài chính. Do vậy khái niệm kiểm toán nội bộ đã thay đổi cùng với sự phát triển của khung quản trị doanh nghiệp.
Theo Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC), “kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá được lập ra trong một đơn vị kinh tế như là một loại dịch vụ cho đơn vị đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ” [31]. Nhƣ vậy về mặt bản chất, kiểm toán nội bộ là một loại hình kiểm soát có tổ chức mà chức năng là đo lƣờng, đánh giá hiệu quả của những loại kiểm soát khác và mang tính nội kiểm [6]. Kiểm toán nội bộ là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống KSNB, hoạt động theo những nguyên tắc kiểm toán và thực hiện chức năng cơ bản của kiểm toán. Khái niệm kiểm toán nội bộ đã đƣợc IIA bổ sung, sửa đổi theo sự phát triển của kinh tế thị trƣờng.
Từ năm 1978 đến nay đã có 5 lần sửa đổi, lần sửa đổi gần nhất là vào tháng 10/2010, đƣợc áp dụng vào ngày1/1/2011, theo đó “kiểm toán nội bộ là hoạt động xác nhận và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiết lập nhằm tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả hoạt động của một tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỷ luật để đánh giá, nâng cao hiệu lực của quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và việc quản lý rủi ro” [33]. Ngoài ra IIA còn sửa đổi chuẩn mực về thực hành nghề nghiệp của kiểm toán viên nội bộ (Standard for the Professional Practices of Internal Auditng) và khung thực hành nghề nghiệp đã ban hành vào năm 2002 (Professional Practices Framework - IIA, 2002a). Điều này thể hiện sự cải tiến 14 theo lịch sự phát triển về bản chất kiểm toán nội bộ.
Theo đó, kiểm toán nội bộ đƣợc giải thích rõ ở 4 nội dung sau: [32], [33]. Một là: Kiểm toán nội bộ là một hoạt động độc lập, khách quan và có thể không cần thiết lập bên trong một tổ chức. Định nghĩa mới cho phép dịch vụ kiểm toán nội bộ có thể đƣợc thuê ngoài mà vẫn đảm bảo chất lƣợng. Khi một nhà cung cấp dịch vụ độc lập phục vụ hoạt động kiểm toán nội bộ, thì họ phải làm cho tổ chức nhận thức đƣợc rằng tổ chức này có trách nhiệm cho việc duy trì hoạt động kiểm toán nội bộ có hiệu quả.
Trong bối cảnh này các chuẩn mực thực hành nhấn mạnh rằng vai trò của các giám đốc điều hành kiểm toán vẫn cần phải duy trì trong nội bộ. Nếu thuê ngoài thì cần quan tâm đến việc đảm bảo rằng sự độc lập của giám đốc điều hành kiểm toán không bị ảnh hƣởng đến các trách nhiệm điều hành khác của họ trong doanh nghiệp. Trách nhiệm này đƣợc thể hiện thông qua việc đảm bảo chất lƣợng và chƣơng trình cải tiến nhằm đánh giá sự tuân thủ Định nghĩa Kiểm toán nội bộ, Đạo luật về đạo đức và chuẩn mực; Hai là: Định nghĩa mới nhấn mạnh tới chức năng đảm bảo và tƣ vấn của kiểm toán nội bộ, với tính chủ động và tập trung vào khách hàng (customer- focused), phạm vi hoạt động bao quát hơn liên quan tới kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro và quản trị doanh nghiệp nhằm giúp nhà quản lý hoàn thành mục tiêu; Ba là: Kiểm toán nội bộ tạo ra giá trị gia tăng và cải thiện hoạt động của tổ chức, đây chính là đóng góp nổi bật của kiểm toán nội bộ theo định nghĩa mới. Hoạt động kiểm toán nội bộ làm tăng giá trị cho tổ chức (và các bên liên quan) khi nó cung cấp sự đảm bảo khách quan và có liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý, quản trị rủi ro và quy trình kiểm soát.
Nhƣ vậy sự đảm bảo do kiểm toán nội bộ cung cấp thực sự rất có giá trị. Bốn là: Định nghĩa mới cũng khẳng định tính chuyên nghiệp cao của kiểm toán nội bộ phù hợp với chuẩn mực quốc tế về tính thực hành của kiểm toán nội bộ. Hoạt động kiểm toán nội bộ phù hợp với các chuẩn mực khi nó đạt đƣợc 15 những kết quả mô tả trong văn bản định nghĩa kiểm toán nội bộ, Đạo luật về Đạo đức và chuẩn mực. Nhƣ vậy, hoạt động kiểm toán nội bộ đã có một quá trình phát triển lâu dài.
Sự đổi mới này sẽ đƣợc ghi nhớ nhất đối với việc làm rõ những quan điểm kiểm toán nội bộ hiện đại. Điều đáng chú ý là IIA tiếp tục xem xét rằng kiểm toán nội bộ là độc lập (và có khả năng cung cấp sự đảm bảo độc lập cho hội đồng quản trị) khi nó báo cáo mang tính chức năng đến hội đồng quản trị, và báo cáo mang tính hành chính cho nhà quản lý.