Chương 1 Tổng quan về quy trình lập kế hoạch giải phóng tàu tại cảng biển Chương 2: Cơ sở lý luận về quy trình lập kế hoạch giải phỏng tàu tại cảng biển Chương 3: Thực trạng quy trình lập kế hoạch giải phỏng tàu nhập khẩu thép cuộn cán nóng tại công ty TMHH MTV cảng Hoàng Diệu Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình lập kế hoạch giải phỏng tàu nhập khẩu thép cuộn cán nóng tại công ty TMHH MTV cảng Hoàng Diệu 6 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH GIẢI PHÓNG TÀU TẠI CẢNG BIỂN 2. Tổng quan về cảng biển 2. Khái niệm của cảng biển Chen (2018) đã định nghĩa cảng biển là một khu vực địa lý với cơ sở hạ tầng cần thiết để tiếp nhận, xử lý và vận chuyển hàng hóa qua lại giữa đường biển và các phương thức vận tải khác. Notteboom & Rodrigue (2021) đã đưa ra khái niệm Cảng biển là một phần thiết yếu của hệ thống giao thông logistics, nơi diễn ra các hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa.Kuzma: “Cảng biển là một đầu mối vận tải liên hợp mà ở đó có nhiều phương tiện vận tải khác nhau chạy qua, đó là tàu biển, tàu sông, xe lửa, ô tô, máy bay và đường ống.
Ở khu vực cảng xuất hiện việc xếp dỡ hàng hóa hoặc sự lên xuống của khách hàng giữa các tàu biển và các phương tiện vận tải còn lại – điều này có nghĩa là xuất hiện sự thay đổi phương tiện vận tải trong vận chuyển hàng hóa và người” Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 định nghĩa cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác. Như vậy, trong bài luận văn này, tác giả sẽ sử dụng khái niệm sau để phục vụ cho nghiên cứu: “Cảng biển là một khu vực địa lý quan trọng trong hệ thống giao thông logistics, bao gồm vùng đất và vùng nước được xây dựng với cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cần thiết để tiếp nhận, xử lý và vận chuyển hàng hóa giữa đường biển và các phương thức vận tải khác (như tàu sông, xe lửa, ô tô, máy bay và đường ống). Cảng biển không chỉ đóng vai trò là đầu mối giao thông quan trọng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả và năng suất của hoạt động logistics thông qua việc tối ưu hóa quy trình giải phóng tàu, thời gian xử lý hàng hóa, và khả năng quản lý luồng hàng hóa. Sự kết nối giữa các phương thức vận tải khác nhau và khả năng thực hiện dịch vụ bốc dỡ hàng hóa cũng là những yếu tố quyết định cho sự phát triển và cạnh tranh của cảng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Phân loại của cảng biển 2. Phân theo mục đích sử dụng + Cảng tổng hợp (cho địa phương và quốc gia): là các cảng thương mại giao nhận nhiều loại hàng hoá. Cảng hàng hoá được chia làm 3 loại: cảng loại A hay còn gọi là các cảng nước sâu, cảng loại B, cảng loại C. + Cảng chuyên dụng: là các cảng giao nhận chủ yếu một loại hàng hoá (xi măng, than, xăng dầu…) phục vụ cho đối tượng riêng biệt (cung cấp nguyên liệu, phân phối sản phẩm của nhà máy hoặc các khu công nghiệp dịch vụ sữa chữa tàu thuyền…), bao gồm cảng chuyên dụng hàng rời, cảng chuyên dụng dầu, cảng chuyên dụng công nghiệp.
+ Cảng trung chuyển quốc tế: là những cảng chuyên làm nhiệm vụ chuyển tàu hoặc trung chuyển hàng quốc tế và một phần nhỏ lượng hàng giao nhận nội địa. Phân theo quy mô và mức độ quan trọng + Cảng biển loại I: là cảng biển đặc biệt quan trọng có quy mô lớn, phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội của cả nước hoặc liên vùng. + Cảng biển loại II: là cảng biển quan trọng, có qui mô vừa, phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội của vùng và địa phương. + Cảng biển loại III: là cảng biển có qui mô nhỏ, phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp.
Chức năng của cảng biển 2. Vai trò của cảng biển: Là đầu mối giao thông đảm bảo cho tàu thuyền neo đậu an toàn, nhanh chóng và thuận tiện, đảm bảo cho việc xếp dỡ hàng hóa và vận chuyển hành khách. Bảo quản và lưu giữ hàng hóa, gia công, phân loại hàng hóa, thực hiện các thủ tục pháp chế về quản lý nhà nước và các dịch vụ hàng hải phục vụ các tàu thuyền. Chức năng của cảng biển: - Chức năng vận tải: cảng biển là một mắt xích (một khâu) của hệ thống vận tải, chính vì vậy nó có chức năng vận tải.
Với chức năng này hoạt động của cảng biển phải nhằm góp phần đạt được các mục tiêu chung của vận tải: + Giảm giá thành vận tải của toàn bộ hệ thống; + Đảm bảo cho quá trình vận tải an toàn, nhanh chóng. - Chức năng thương mại, công nghiệp: các nước tiên tiến hay ngay cả các nước kém phát triển sớm hay muộn cũng sẽ nhận ra được những thuận lợi trong hoạt động công nghiệp và thương mại do cảng biển mang lại, cảng còn hỗ trợ nhập khẩu và tăng cường xuất khẩu. Tuy 8 nhiên sự hỗ trợ này không chỉ do các cảng biển, mà còn có cả các cảng khô (inland port). Ý nghĩa của cảng biển Trong các phương thức vận tải, vận tải đường biển chiếm vai trò chủ đạo.
Hàng năm, hơn 80% hàng hóa trên thế giới được vận chuyển bằng đường biển. Cảng biển là đầu mối quốc gia quan trọng, nối liền các khu vực của quốc gia và nối quốc gia đó với thế giới bên ngoài. Do đó, cảng biển đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa. Bên cạnh đó, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong khâu lưu thông - một khâu quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cảng biển còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như buôn bán, giao dịch, đại lý, môi giới, bảo hiểm, luật pháp, tài chính, ngân hàng, du lịch… Những hoạt động này mang lại nguồn lợi đáng kể cho các quốc gia có biển.
Cảng biển tạo cơ sở cho các hoạt động dịch vụ, cho chính cảng biển và cho hàng loạt các ngành khác. Tóm lại, cảng biển đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, thông qua phát triển các loại hình dịch vụ cảng biển. Cảng biển có dịch vụ phát triển sẽ thu hút nhiều tàu bè, nhiều hàng hóa xuất nhập khẩu hay quá cảnh, từ đó quan hệ của một quốc gia cũng được phát triển về mọi mặt. Cảng chính là cửa ngõ thông thương của một quốc gia với thế giới.
Cảng biển đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, phản ảnh trình độ khả năng mở cửa giao lưu hội nhập của một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới. Khái quát về hoạt động giải phóng tàu tại cảng biển 2. Khái niệm hoạt động giải phóng tàu (operate cube) Mutlaq (2020) cho rằng: Thời gian giải phóng tàu tàu có nghĩa là thời gian tàu neo đậu tại cảng được cảng sử dụng và coi thời gian quay vòng là chỉ số vận hành cảng để đạt hiệu suất tối ưu về năng lực, năng lực và sản lượng. Hơn nữa, bất kỳ hoạt động nào của cảng đều yêu cầu một bộ thước đo liên quan đến thời gian tàu neo đậu hoặc cảng biển, mức phí/xả lô hàng và các chỉ số khác để đo lường hoạt động của cảng.
Cullinane & Wang (2006) trong bài nghiên cứu “The Efficiency of Container Ports: A Comparative Study Using DEA and SFA” cho rằng Nghiệp vụ giải phóng tàu bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để đưa tàu từ trạng thái neo đậu đến trạng thái rời khỏi cảng, bao gồm bốc dỡ hàng hóa, kiểm tra an toàn và hoàn tất các thủ tục hải quan. Hiệu quả của nghiệp vụ này được đánh giá qua thời gian trung bình mà tàu phải chờ đợi để giải phóng. 9 Dayananda & cộng sự (2021) định nghĩa Thời gian giải phóng tàu là một trong những chỉ số hoạt động quan trọng nhất của Cảng. Đây là tổng thời gian mà tàu đang cập cảng trong một lần ghé cảng nhất định.
Đó là tổng thời gian chờ đợi, cộng với thời gian cập bến, cộng với thời gian phục vụ (tức là thời gian tàu cập bến), cộng thêm sự chậm trễ trong việc khởi hành. Dwarakish (2019) đã nêu: Thời gian giải phóng tàu tàu tại cảng biển thể hiện năng lực và khả năng của cảng trong việc cung cấp dịch vụ hiệu quả và hiệu quả. Thời gian giải phóng tàu là một trong những chỉ số hoạt động quan trọng nhất của Cảng. Đây là tổng thời gian mà tàu phải ở trong cảng trong một lần ghé cảng.
Đó là tổng thời gian chờ đợi, thời gian cập bến, thời gian phục vụ (tức là thời gian tàu cập bến) và thời gian trễ chuyến. Theo Giáo trình Quản lý khai thác cảng biển; Quản lý Cảng biển và Logistics, Đại học Hàng hải Việt Nam: Hoạt động giải phóng tàu là quá trình hoàn tất mọi hoạt động liên quan đến tàu tại cảng, bao gồm xếp dỡ hàng hóa, hoàn thành các thủ tục hải quan, thanh toán phí dịch vụ cảng và các quy trình pháp lý khác, nhằm đảm bảo tàu có thể rời cảng sớm nhất có thể. Mục tiêu của giải phóng tàu là giảm thiểu thời gian tàu neo đậu tại cảng, từ đó tối ưu hóa việc khai thác cảng và tăng hiệu quả hoạt động của các bên liên quan. Tóm lại, trong luận văn này sẽ sử dụng khái niệm sau đề phục vụ cho quá trình nghiên cứu: Giải phóng tàu là quá trình thực hiện tất cả các hoạt động cần thiết để đưa tàu từ trạng thái neo đậu đến trạng thái rời cảng, bao gồm bốc dỡ hàng hóa, kiểm tra an toàn, hoàn tất thủ tục hải quan và thanh toán phí dịch vụ cảng.
Quá trình này được đo lường thông qua thời gian tàu neo đậu tại cảng, bao gồm tổng thời gian chờ đợi, thời gian cập bến, thời gian phục vụ và thời gian khởi hành. Mục tiêu của giải phóng tàu là giảm thiểu thời gian neo đậu, tối ưu hóa năng lực khai thác cảng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các bên liên quan.