CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI BÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI BÁN VỚI VẤN ĐỀ KIỂM TOÁN 1. Nội dung khoản mục nợ phải trả người bán Trong quá trình sản xuất kinh doanh bất kỳ một doanh nghiệp nào để duy trì tính liên tục và hiệu quả thì luôn phải đảm bảo tốt yếu đẩu vào, như các yếu tố vật tư, hàng hóa, tài sản và dịch vụ thuê ngoài phục vụ sản xuất kinh doanh. Theo xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường, ngoài quan hệ thanh toán trả tiền ngay thì quan hệ mua bán chịu ngày càng trở nên phổ biến, tạo ra những khoản nợ phải trả người bán. Nợ phải trả người bán bao gồm các khoản phải trả người bán về việc mua vật tư, mua hàng hóa, tài sản cố định, công cụ dụng cụ, thiết bị, dịch vụ điện nước, điện thoại, vệ sinh, sửa chữa.
Các khoản phải trả này không bao gồm khoản nợ phải chịu lãi, khoản phải trả do bị phạt, giấy nhận nợ, vay nợ, nợ trái phiếu. Nội dung, số liệu các khoản phải trả người bán đó được phản ánh qua tài khoản nợ phải trả người bán. Nguyên tắc hạch toán khoản mục Nợ phải trả người bán: - Nợ phải trả người bán, người cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ cần được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng phải trả. Trong chi tiết từng đối tượng phải trả, tài khoản này phản ánh cả số tiền đã ứng trước cho người bán, người cung cấp nhưng chưa nhận được sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ hoàn thành bàn giao.
Sinh viên: Bùi Thị Hằng 4 Lớp: CQ46/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính - Tài khoản này không theo dõi các nghiệp vụ mua hàng trả tiền ngay tại thời điểm giao hàng (bằng tiền mặt, séc hoặc đã trả qua ngân hàng. - Những vật tư, hàng hóa, dịch vụ đã nhận, nhập kho nhưng đến cuối tháng vẫn chưa có hóa đơn thì sử dụng giá tạm tính để ghi sổ và phải điều chỉnh về giá thực tế khi nhận được hóa đơn hoặc thông báo giá chính thức của người bán. - Phản ánh các nghiệp vụ chiết khấu, giảm giá phát sinh được người bán chấp nhận làm thay đổi số nợ sẽ thanh toán. Khi hạch toán chi tiết các khoản này thì kế toán phải hạch toán rõ ràng, rành mạch các khoản chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán của người bán, người cung cấp ngoài hóa đơn mua hàng.
- Đối với những khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ thì cần phải theo dõi cả về mặt nguyên tệ trên các tài khoản chi tiết và quy đổi theo đồng Việt Nam. Cuối kỳ phải điều chỉnh theo tỷ giá thực tế. - Đối với các khoản nợ phải trả bằng vàng, bạc, đá quý thì cần chi tiết cả chỉ tiêu giá trị và hiện vật. Cuối kỳ điều chỉnh theo số dư thực tế.
- Không bù trừ công nợ giữa nhà cung cấp, giữa khách hàng mà phải căn cứ trên sổ chi tiết để lấy số liệu lập bảng cân đối kế toán cuối kỳ. - Theo dõi chi tiết từng khoản nợ phải trả theo từng đối tượng, thường xuyên tiến hành đối chiếu, kiểm tra tình hình thanh toán được kịp thời. - Đối với các đối tượng có quan hệ giao dịch, mua bán thường xuyên, có số dư nợ lớn thì định kì hoặc cuối tháng kế toán cần kiểm tra đối chiếu từng khoản nợ lớn phát sinh, số đã thanh toán và số còn phải thanh toán, có xác nhận bằng văn bản. Sinh viên: Bùi Thị Hằng 5 Lớp: CQ46/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1.
Tầm quan trọng của kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán trong kiểm toán BCTC Có thể nói trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay đã và đang tạo cơ hội, tạo đà cho thị trường kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng được mở rộng và phát triển trên khắp thế giới với số lượng nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các doanh nghiệp ngày càng tăng cao và phong phú, đồng thời nhằm khuyến khích tiêu thụ sản phẩm thì chính sách tín dụng của các nhà cung cấp cũng được mở rộng. Vì vậy, nếu DN có một sự kiểm soát tốt về các khoản nợ phải trả người bán thì DN có thể tận dụng được các cơ hội từ phía nhà cung cấp, hoặc tận dụng các chính sách chiết khấu thanh toán và chiết khấu thương mại của nhà cung cấp. Đồng thời với việc kiểm soát tốt các khoản phải trả người bán cũng giúp DN tránh được các tổn thất không đáng có như mua hàng không đúng yêu cầu, không đúng số lượng, chất lượng, các khoản phải trả người bán được ghi chép theo dõi không đầy đủ, không ghi chép đúng các khoản tiền thanh toán cho người bán, kế toán chiếm dụng, tham ô. Bên cạnh đó, Nợ phải trả người bán còn có ý nghĩa lớn đối với hoạt động kinh doanh của DN bởi nó là khoản vốn mà DN chiếm dụng được nên nó giảm thiểu được chi phí sử dụng vốn cho DN, từ đó tiết kiệm được chi phí sản xuất kinh doanh để nâng cao lợi nhuận cho DN.
Đồng thời nó cũng là một trong các chi tiêu ảnh hưởng tới các tỷ suất tài chính của doanh nghiệp như: tỷ suất thanh toán hiện thời, tỷ suất khả năng thanh toán nhanh và tỷ suất khả năng thanh toán và tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn. Mặt khác khoản mục phải trả người bán luôn chứa đựng nhiểu sai phạm vì đây là một khoản mục tương đối lớn trong DN, là một chỉ tiêu nằm trên Bảng Cân Đối Kế Toán, lại liên quan mật thiết tới các khoản mục hàng tồn kho, giá vốn hàng bán nên DN có thể thông qua khoản mục này để làm cho tình hình công nợ được giảm đi để phục vụ cho những mục Sinh viên: Bùi Thị Hằng 6 Lớp: CQ46/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính đích riêng. Do đó, KTV để có thể đưa ra được ý kiến nhận xét về tính trung thực và hợp lý của BCTC của khách hàng thì cần thiết tiến hành kiểm toán từng phần hành, khoản mục nhỏ trong đó như khoản mục phải trả người bán. Vì thế, kiểm toán khoản mục phải trả người bán giữ một vị trí quan trọng trong kiểm toán BCTC.
NỘI DUNG CƠ BẢN KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI BÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Mục tiêu kiểm toán khoản mục Nợ phải trả người bán Để thực hiện đúng hướng và hiệu quả hoạt động kiểm toán thì KTV phải xác định được mục tiêu kiểm toán trên cơ sở các mối quan hệ vốn có của đối tượng và khách thể kiểm toán. Vì vậy, khi tiến hành kiểm toán khoản mục phải trả cho người bán, KTV cũng phải xác định hệ thống mục tiêu kiểm toán cho khoản mục này. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán Báo cáo tài chính” ở Khoản 11 đã xác định: “Mục tiêu của kiểm toán Báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không? Mục tiêu của kiểm toán Báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị”.
Theo đó mục tiêu nói chung trong kiểm toán khoản mục Nợ phải trả người bán là xác minh tính trung thực hợp lý hay độ tin cậy của các khoản nợ phải trả người bán và việc trình bày các khoản nợ phải trả người bán trên Báo cáo tài chính đảm bảo tính đầy đủ, đúng đắn, hợp lý theo quy định Sinh viên: Bùi Thị Hằng 7 Lớp: CQ46/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính của chuẩn mực. Để đạt được mục tiêu nói chung này, thì kiểm toán nợ phải trả người bán phải đạt được các mục tiêu sau đây: - Các khoản nợ phải trả người bán phản ánh trong BCTC là có thật (thực tế xảy ra và được phê duyệt đúng thẩm quyền) và phù hợp với từng đối tượng. - Các khoản nợ phải trả người bán được tính toán, đánh giá đúng quy định, đúng số lượng và số tiền. - Các khoản nợ phải trả người bán được ghi chép một cách đầy đủ, đúng quy định và đúng phương pháp kế toán.
- Các khoản nợ phải trả người bán được ghi chép kịp thời. - Các khoản nợ phải trả người bán được ghi chép đúng loại theo từng loại nợ phải trả. - Các khoản nợ phải trả cho người bán được ghi chép đúng kỳ. - Các khoản nợ phải trả người bán phản ánh trong Báo cáo tài chính là đúng nghĩa vụ của DN, nghĩa là khoản nợ phải trả đang tồn tại chủ nợ mà DN phải có nghĩa vụ trả nợ trong một thời gian nhất định với số tiền nhất định.
- Các khoản nợ phải trả người bán phải đảm bảo phù hợp giữa số tổng hợp và số chi tiết. - Các khoản nợ phải trả người bán phát sinh có đầy đủ các chứng cứ và chứng từ hợp lệ. - Các khoản nợ phải trả người bán luôn có sự xác nhận đầy đủ kịp thời của chủ nợ. - Quá trình kiểm soát nội bộ nợ phải trả người bán là chặt chẽ và hiệu quả.
- Các khoản nợ phải trả người bán được trình bày và công bố đúng đắn và đầy đủ theo quy định. Sinh viên: Bùi Thị Hằng 8 Lớp: CQ46/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1. Căn cứ kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, căn cứ kiểm toán hoàn toàn khác với căn cứ ghi sổ kế toán. Căn cứ ghi sổ kế toán mới chỉ là những căn cứ kiểm tra tại phòng kế toán.
Ngoài những căn cứ này, căn cứ để kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán còn bao gồm tất cả những tài liệu để kiểm soát và chứng minh cho các nghiệp vụ kinh tế phát sinh một cách khách quan ở các bộ phận chức năng có liên quan.