Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về hoàn thiện quy trình cung ứng hàng hoá bán buôn của doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng quá trình hoàn thiện quy trình cung ứng hàng hoá bán buôn của công ty cổ phần SOVINA. Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình cung ứng hàng hoá bán buôn của công ty cổ phần SOVINA.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CUNG ỨNG HÀNG HOÁ BÁN BUÔN CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản về cung ứng hàng hóa bán buôn 2. Khái niệm về cung ứng hàng hóa - Khái niệm về chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động cung ứng của các công ty kinh doanh thương mại nói riêng. Ngày nay, để cạnh tranh thành công trong môi trường kinh doanh đầy biển động, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà còn phải phối hợp cùng NCC cũng như khách hàng của mình.
Bởi lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng, họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế, đóng gói sản phẩm, dịch vụ của NCC, cách thức vận chuyển, bảo quản thành phẩm và những mong đợi của khách hàng. Vì vậy, khái niệm về “chuỗi cung ứng” được nhìn nhận và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, ở góc độ tiếp cận từ doanh nghiệp có vai trò là công ty trung tâm lãnh đạo chuỗi được trích dẫn trong giáo trình Quản trị chuỗi cung ứng của An Thị Thanh Nhàn và ctg, (2021) thì có thể hiểu: “Chuỗi cung ứng là tập hợp các doanh nghiệp hoặc tổ chức tham gia trực tiếp và gián tiếp vào các quá trình tạo ra, duy trì và phân phối một loại sản phẩm nào đó cho thị trường”. - Khái niệm về cung ứng hàng hóa bán buôn Tại các doanh nghiệp, bán hàng là kết quả của sự kết hợp giữa hai hoạt động marketing và logistics.
Các hoạt động marketing sẽ tạo nên các giao dịch còn hoạt động logistics có nhiệm vụ thực hiện các giao dịch hay cung ứng hàng hóa cho khách hàng căn cứ vào các cam kết trong giao dịch. Theo An Thị Thanh Nhàn và các cộng sự (2018), “Giáo trình quản trị logistics kinh doanh”, cho rằng “Quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng hay logistics trực tiếp trong bán hàng là một tập hợp các thao tác nhằm đáp ứng chính xác nhất các yêu cầu đơn hàng của khách hàng trong các giao dịch với chi phí thấp nhất có thể”. Như vậy, có thể hiểu “Quá trình cung ứng hàng hóa bán buôn chính là chuỗi các thao tác xây dựng, lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng hàng hóa từ doanh nghiệp đến các khách hàng tổ chức của mình sao cho mục tiêu cuối cùng là tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa DVKH”. Đặc điểm bán buôn trong chuỗi cung ứng Trước hết cần phải hiểu rõ về khái niệm của bán buôn, để từ đó, đưa ra được kết luận về đặc điểm bán buôn trong chuỗi cung ứng.
Theo quy định tại Khoản 6, Điều 3 Nghị định số 09/2018/NĐ- CP ngày 15/1/2018 của Chính phủ: “Bán buôn là hoạt động bán hàng cho thương nhân, tổ chức khác không bao gồm bán trực tiếp cho người mua để sử 7 dụng vào mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình”. Bên cạnh đó, theo quan điểm marketing: “Bán buôn chỉ những hoạt động thương mại nhằm cung cấp hàng hóa/dịch vụ từ nhà sản xuất/công ty cung ứng dịch vụ đến khách hàng tổ chức. Trong đó khách hàng tổ chức là các tổ chức, cá nhân mua hàng hóa/dịch vụ với mục đích bán lại để kiếm lời; sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình như một công cụ, phương tiện sản xuất hoặc sử dụng cho tiêu dùng của công nhân viên công ty”. Như vậy từ hai khái niệm trên, có thể rút ra được một số đặc điểm cơ bản của bán buôn như sau: + Khách hàng của doanh nghiệp bán buôn là các tổ chức, hay nói cách khác là các thương nhân, doanh nghiệp hoặc một tổ chức khác mua với số lượng lớn, phạm vi rộng và thường cố định, ít khi thay đổi, có xu hướng hợp tác lâu dài với doanh nghiệp.
+ Giá bán trên một đơn vị sản phẩm trong bán buôn rẻ hơn rất nhiều so với giá bán lẻ. + Hiệu quả xúc tiến trong bán buôn sẽ thấp hơn nhiều so với bán lẻ. Trong khi bán lẻ sẽ áp dụng việc quảng cáo, khuyến mãi, marketing. để thu hút khách hàng thì các công cụ xúc tiến trong bán buôn thường là giảm giá, chiết khấu dựa vào số lượng mua hàng nhằm thúc đẩy khách hàng mua hàng nhiều hơn, thu hút được nhiều khách hàng tiềm năng mới.
+ Thương mại bán buôn phải chịu sự tác động của các quyết định pháp luật và thuế khóa khác so với thương mại bán lẻ. Vị trí của quá trình cung ứng hàng hóa trong doanh nghiệp Hình 2. Vị trí của quá trình cung ứng hàng hóa trong doanh nghiệp Nguồn: An Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2018) Từ sơ đồ trên, có thể thấy rõ vị trí cũng như tầm quan trọng của quá trình cung ứng hàng hóa trong doanh nghiệp. Quá trình cung ứng hàng hóa trong doanh nghiệp được bắt đầu từ nơi duy trì dự trữ/cung cấp hàng cho đến tay khách hàng tổ chức.
Quá trình bao gồm các hoạt động về mua, dự trữ, kho, bao bì, vận chuyển tương ứng với từng công việc cụ thể, đó là chuẩn bị hàng, tính toán dự trữ, di chuyển, bao gói, giấy tờ. Các hoạt động này diễn ra giữa người bán, người mua và người cung ứng dịch vụ logistics (còn gọi là bên thứ ba) nhằm làm tăng giá trị sản phẩm trong chuỗi cung ứng thông qua việc cung cấp tất cả dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu khách hàng. Giá trị này trong trao đổi ngắn hạn không mang nhiều ý nghĩa lắm nhưng trong dài hạn có thể là nhân tố tạo các mối quan hệ lâu dài và có thể được chia sẻ giữa các bên tham gia. Mục tiêu, nguyên tắc của cung ứng hàng hóa bán buôn trong doanh nghiệp - Mục tiêu của cung ứng hàng hóa bán buôn Mục tiêu của hoạt động cung ứng hàng hóa nói chung và cung ứng hàng hóa bán buôn nói riêng là: Phát triển doanh số trên cơ sở cung cấp trình độ DVKH mong đợi có tính chiến lược với tổng chi phí thấp nhất có thể.
Mục tiêu này đòi hỏi phải tối ưu hóa DVKH, có nghĩa là phải đảm bảo trình độ DVKH của quá trình cung ứng hàng hóa đem lại khả năng lợi nhuận cao nhất. 9 Các mục tiêu cụ thể của quá trình cung ứng hàng hóa trong bán buôn bao gồm 3 vấn đề chính: Đáp ứng nhanh: Mục tiêu này yêu cầu quá trình thực hiện đơn hàng trong bán buôn diễn ra ngắn nhất có thể về thời gian và thấp nhất về chi phí giao hàng. Điều này đảm bảo các khâu trong quá trình cung ứng bán buôn được rút ngắn nhưng hiệu quả cao. Từ việc rút ngắn thời gian, cung ứng bán buôn còn tối ưu hóa về giá, vì thế giá từ nhà sản xuất đến nhà phân phối đều được đảm bảo về mặt chiết khấu.
Việc rút ngắn được thời gian bán hàng đến mức thấp nhất đòi hỏi phải có phương pháp cải tiến được đề xuất. Tối thiểu hóa các sai lệch: Việc số lượng hàng hóa lớn đòi hỏi độ chính xác và sai số thấp nhất. Điều này giúp doanh nghiệp giảm thiểu được các chi phí hao hụt cũng như tạo được sự uy tín với khách hàng. Giảm thiểu số lượng ngày thực hiện đơn hàng và thực hiện đúng các yêu cầu trong hợp đồng mua bán với khách hàng.
Trong quá trình phân phối và bán hàng, các doanh nghiệp bán buôn luôn phải đặt tiêu chí thời gian và số lượng lên hàng đầu. Mục tiêu chi phí: Đảm bảo tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đáp ứng đúng dịch vụ thông qua tối ưu hóa các quá trình. Các quá trình lỗi thời sẽ được gạt bỏ bằng các quá trình tối ưu, linh động. Hạn chế chi phí hao mòn, sửa chữa tăng.
Đồng thời đổi mới công nghệ và tăng năng suất phục vụ trong quá trình cung ứng hàng hóa. - Nguyên tắc của cung ứng hàng hóa bán buôn Để thực hiện được những mục tiêu như trên, đòi hỏi hoạt động cung ứng hàng hóa bán buôn cần được tuân theo những nguyên tắc như sau: Nguyên tắc ưu tiên trong thực hiện đơn hàng: Nguyên tắc này yêu cầu trong quá trình thực hiện đơn hàng, cần phải ưu tiên cung cấp hàng hóa cho một số khách hàng có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khách hàng có tầm quan trọng ở đây được hiểu là những khách hàng mang lại lợi nhuận lớn và ổn định cho doanh nghiệp, họ là những khách hàng tiềm năng, khách hàng trung thành, vì thế để duy trì được doanh thu mà tệp khách hàng này mang lại doanh nghiệp cần phải cố gắng thỏa mãn được những nhu cầu của họ. Nếu như mức giá cung cấp không thể giảm thấp hơn cho những đơn hàng này thì doanh nghiệp có thể làm hài lòng họ bằng các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, có thể là thời gian giao hàng, ưu tiên trong đóng gói và vận chuyển hàng đến kho của khách theo thời gian mà khách mong muốn.
Trong trường hợp này nên áp dụng quy tắc 80/20 hay phân loại A, B, C khách hàng để có chính sách thích đáng. Về nguyên tắc 80/20 có thể hiểu là trong tất cả những khách hàng mà doanh nghiệp đang cung cấp hàng hóa sẽ có 20% khách hàng đem lại cho doanh nghiệp 80% lợi nhuận và điều mà doanh nghiệp cần làm là tìm ra họ là những ai thông qua việc quan sát, đánh giá tần suất mua hàng đề có những chính sách ưu tiên, duy trì mối quan hệ và giữ chân những khách 10 hàng tiềm năng này. Cùng với đó, doanh nghiệp có thể kết hợp thêm với phương pháp phân loại A, B, C để phân loại mức độ tiềm năng của các khách hàng, những khách hàng mang lại nhiều lợi nhuận và trung thành nhất sẽ được xếp ở mức A, và lần lượt theo thứ tự B, C. Từ đó doanh nghiệp đưa ra những chính sách riêng áp dụng cho từng tệp khách hàng để sao cho vừa giữ chân được những khách hàng mức A lại vừa xúc tiến bán thêm được cho những khách hàng mức B, C.
Nguyên tắc đồng bộ thực hiện đơn hàng: Đề tiết kiệm thời gian, tăng nhanh tốc độ cung ứng, không nên chỉ nhấn mạnh vào tính tuần tự của quy trình.