Chương 1: LÍ LUẬN VỀ QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về quy chế trả lương Quy chế là văn bản nêu các điều, khoản quy định thành chế độ hoạt động chung của tổ chức, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị hoặc trong xã hội để các thành viên có liên quan thi hành, nhằm bảo đảm sự thống nhất hành động, tinh thần kỉ luật, hiệu quả công việc và mục tiêu cần đạt tới. Quy chế của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị hoặc trong các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội,.thường do từng tổ chức, cơ quan, đơn vị đó soạn thảo và phải được cơ quan có thẩm quyền chuẩn y mới được thi hành để bảo đảm tính thống nhất của pháp luật nhà nước và quyền dân chủ của các thành viên tham gia. Có nhiều hình thức, mức độ thể hiện quy chế khác nhau tuỳ theo từng tổ chức có tính chất, nhiệm vụ hoạt động khác nhau: có loại quy chế thể hiện các hoạt động của tổ chức một cách toàn diện, lâu dài và có thể được bổ sung theo định kì (quy chế làm việc của cấp uỷ đảng, của hội đồng nhân dân, của ban chấp hành đoàn thể .); có loại quy chế thể hiện các hoạt động ngắn hạn của một hoặc nhiều tổ chức có liên quan, xử lí một công việc nhất định trong một thời gian nhất định (quy chế đấu thầu công trình xây dựng cơ bản, tổ chức cuộc thi tranh giải báo chí, thi đấu thể thao.
Theo đại từ điển Tiếng Việt- Nguyễn Như Ý – Nhà xuất bản văn hoá thông tin 1999: Quy chế là chế độ được quy định dưới dạng văn bản thể hiện thông qua các điều khoản để điều tiết hành vi của con người khi thực hiện những hoạt động nhất định nào đó trong tổ chức. Tiền lương là số tiền mà người lao động nhận được do bán sức lao động cho người mua sức lao động, có thể là một công ty một doanh nghiệp hay một tổ chức nào đó thông qua hợp đồng lao động, hoặc thỏa thuận lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động. 6 Từ những khái niệm trên ta có thể rút ra được, Quy chế trả lương là văn bản quy định nguyên tắc, cách thức, thể lệ, đối tượng, điều kiện,. để cơ quan quan lý nhà nước, đại diện người sử dụng lao động, thanh toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ tiền lương, tiền thưởng, tiền bảo hiểm xã hội, phúc lợi xã hội và mọi lợi ích khác cho người lao động.
Nội dung cơ bản của quy chế trả lương 1. Xác định những nguyên tắc trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp Những nguyên tắc trả lương là cơ sở quan trọng để xây dựng được một quy chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập phù hợp trong điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. Phân phối tiền lương, tiền thưởng là nội dung quan trọng nhất trong Quy chế trả lương. Do đó để đảm bảo công bằng và trả lương gắn với giá trị hao phí sức lao động, kết quả thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của người lao động thì công tác trả lương phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho những người lao động như nhau Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động.
Nguyên tắc này dùng thước đo lao động để đánh giá, so sánh và thực hiện trả lương. Những người lao động khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ…, nhưng có mức hao phí sức lao động(đóng góp sức lao động) như nhau thì được trả lương như nhau. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng vì nó đảm bảo được sự công bằng, bảo đảm sự bình đẳng trong trả lương, tạo sức khuyến khích rất lớn với người lao động. Nguyên tắc trả lương ngang nhau nhất quán trong từng chủ thể kinh tế, trong từng doanh nghiệp cũng như trong từng khu vực hoạt động.
Nguyên tắc này thể hiện trong các thang lương, bảng lương, chính sách trả lương và các hình thức trả lương. Tuy nhiên, dù là một trong những nguyên tắc quan trọng thì việc áp dụng 7 nguyên tắc này và phạm vi mở rộng việc áp dụng nguyên tắc trong một nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển và tổ chức quản lí kinh tế xã hội của từng nước trong từng thời kì khác nhau. Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau bao hàm ý nghiã đối với những công việc khác nhau thì cần thiết phải có sự đánh giá đúng mức và phân biệt công bằng, chính xác trong tính toán trả lương. Ở nước ta hiện nay, chúng ta đang phấn đấu cho một xã hội công bằng văn minh và tiến bộ, trong đó có công bằng trong trả lương.
Trong khu vực hành chính sự nghiệp các chế độ tiền lương được thống nhất trong các thang bảng lương của từng ngành, từng hoạt động và lĩnh vực kinh doanh. Trong các tổ chức hoạt động kinh doanh, nhà nước hướng các doanh nghiệp thực hiện tổ chức trả lương theo chính sách trả lương và có những điều tiết cần thiết để tiền lương phù hợp với lao động thực tế bỏ ra trong quá trình lao động thông qua những cơ chế thích hợp. Nguyên tắc 2: Bảo đảm năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân. Năng suất lao động không ngừng tăng lên, đó là một quy luật.
Tiền lương của người lao động cũng không ngừng tăng lên do tác dụng của các nhân tố khách quan. Nhưng giữa tăng tiền lương và tăng năng suất lao động có liên quan chặt chẽ với nhau. Ta sẽ đi giải thích mối quan hệ đó và tính hợp lí của nguyên tắc: bảo đảm năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân. Xét các yếu tố, các nguyên nhân trực tiếp làm tăng tiền lương và tiền lương bình quân là do trình độ tổ chức và quản lí sản xuất ngày càng hiệu quả hơn… Đối với năng suất lao động, ngoài những yếu tố gắn liền với việc nâng cao kĩ năng làm việc và trình độ tổ chức quản lí lao động như trên thì tăng năng suất lao động còn do các nguyên nhân khác như đối mới công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ trang bị kĩ thuật trong lao động, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên… Có thể thấy là năng suất lao động có khả năng khách quan tăng nhanh hơn tiền lương bình quân.
Mặt khác, trong toàn bộ nền kinh tế, khi xem xét các mối quan hệ giữa tốc độ 8 tăng năng suất lao động và tiền lương bình quân, giữa tích luỹ và tiêu dùng trong thu nhập quốc dân ta thấy chúng có mối liên hệ với tốc độ phát triển của khu vực sản xuất tư liệu sản xuất (khu vực I) và khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng (khu vực II). Quy luật tái sản xuất mở rộng đòi hỏi khu vực I phải nhanh hơn khu vực II. Do vậy tổng sản phẩm xã hội (khu vực I và II) có tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của tổng sản phẩm của riêng của khu vực II. Do đó tổng sản phẩm xã hội tính theo đầu người (cơ sở của năng suất lao động bình quân) tăng nhanh hơn tốc độ tăng sản phẩm bình quân tính theo đầu người của khu vực II (cơ sở của tiền lương thực tế).
Ngoài ra, không phải toàn bộ sản phẩm của khu vực II được dùng cho tiêu dùng để nâng cao tiền lương mà một phần trong đó được dùng để tích luỹ. Điều này cũng chỉ ra rằng muốn tăng tiền lương thì phải tăng năng suất lao động xã hội với tốc độ cao hơn. Trong từng doanh nghiệp việc tăng tiền lương dẫn đến tăng chi phí sản xuất kinh doanh; tăng năng suất lao động thì lại làm giảm chi phí cho từng đơn vị sản phẩm. Một doanh nghiệp chỉ thực sự kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung và chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm đi, tức là mức giảm chi phí do tăng năng suất lao động phải lớn hơn mức tăng chi phí do tăng tiền lương bình quân.
Rõ ràng nguyên tắc này là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động và phát triển nền kinh tế. Nguyên tắc 3: Phân phối tiền lương cho người lao động trong doanh nghiệp phải gắn với kết quả thực hiện công việc của người lao động và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp đó là lợi nhuận của doanh nghiệp mà cụ thể là kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp là một phần trong chi phí của doanh nghiệp do đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp do đó trong việc hình thành quỹ và phân phối tiền lương cho người lao động trong doanh nghiệp cần phải gắn với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với người lao động cũng vây, kết quả thực hiện công việc của người lao 9 động là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá được khả năng và những đóng góp của người lao động cho doanh nghiệp, do đó tiền lương trả cho người lao động cũng phải căn cứ trên kết quả thực hiện công việc của người lao động. Quy định về tiền lương tối thiểu [16,tr26-27] 1. Khái niệm tiền lương tối thiểu Tiền lương tối thiểu là số tiền trả công cho người lao động làm các công việc giản đơn nhất trong xã hội, được tiến hành với cường độ lao động bình thường trong điều kiện lao động bình thường và môi trường lao động không độc hại, người lao động không cần đào tạo cũng có thể thực hiện được. Tiền lương tối thiểu đó, người lao động có thể mua được những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái tạo sức lao động giản đơn và một phần tái sản xuất mở rộng sức lao động của bản, bảo hiểm khi tuổi già, lúc mất việc và một phần để nuôi gia đình họ.
Lương tối thiểu cũng là số lương thấp nhất mà doanh nghiệp trả cho người lao động làm việc bình thường trong giờ luật định. Lương tối thiểu không bao gồm lương tăng ca, tăng giờ, phụ cấp làm đêm, phụ cấp ăn thêm… 1.