Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TAC QUAN TRI NGUÒN NHÂN LỰC TRONG TO CHỨC CONG 1. Nguồn nhân lực trong tổ chức công 1. Khái niệm, vai trò nguôn nhân lực trong tổ chức công 1. Nguồn nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thé và đến một mức độ nào đó, con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động- con người có sức lao động. Nguồn nhân lực chính là con người. Theo quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam, nguồn nhân lực là người có khả năng lao động ở độ tuôi từ 15 đến 60 đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ. Tổ chức công Tổ chức là sự sắp xếp có hệ thống những người được nhóm lại và hoạt động với nhau đề đạt được mục tiêu cụ thể.
Tổ chức công gồm: cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước.3 Nguôn nhân lực trong tổ chức công Theo quy định của Luật Cán bộ công chức năm 2008, thì nguồn nhân lực trong khu vực Nhà nước là các cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong tổ chức công. Cán bộ, là công dân Việt nam, được bau cử, phê chuẩn, bé nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt nam, được tuyển dụng, bô nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính tri- xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh dao, quan ly của đơn vi sự nghiệp công lập thi lương được bao đảm từ quỹ lương của đơn vi sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Cán bộ cấp xã là công dân Việt nam được bầu cử, giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uy ban nhân dân, Bi thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị- xã hội.
Công chức cấp xã là công dân Việt nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Người lao động là công dân Việt nam làm việc trong cơ quan Nhà nước theo hình thức hợp động lao động có thời hạn.4 Vai trò của nguồn nhân lực trong tổ chức công Nguồn nhân lực là nguồn lực có ý thức. Nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức nói chung và trong tô chức công nói riêng có vai trò quan trọng, quyết định đến sự tồn tai, phát triển của tô chức. Nguồn nhân lực là yếu tố chủ yếu tạo thuận lợi cho tô chức, là nguồn lực mang tính chiến lược và là nguồn lực vô tận.
Đặc biệt trong tổ chức công các yếu tố nguyên liệu, vốn, máy móc, trang thiết bị, công nghệ có vai trò nhỏ chính vì thế sự phát triển của tổ chức công phân lớn dựa vào sự phát triên nguôn nhân lực và ngược lại. Đặc điểm nguồn nhân lực trong tổ chức công Là công dân Việt nam, mang một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 đã có sửa đổi và cho phép công dân Việt nam được mang nhiều quốc tịch nhưng hoạt động công vụ là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, thực thi và thừa hành pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhân dân, xã hội và quốc gia. Vì vậy, nhất thiết công chức Việt nam tham gia vào công vụ phải là công dân Việt nam và chỉ mang một quốc tịch là quốc tịch Việt nam.
Luật không cho phép vừa mang quốc tịch Việt nam vừa mang quốc tịch của nước khác. Đây cũng là quy định chung ở các quốc gia trên thế giới. Theo quy định của Bộ Luật Lao động của Việt Nam thì nguồn nhân lực là những người có độ tuổi từ 15 tudi trở lên, nhưng là cán bộ, công chức, viên chức phải là người đủ 18 tuổi trở lên. Trong quy định về tuyên dụng công chức, áp dụng từ năm 2008 thì người dự tuyển phải có độ tuôi từ đủ 18 tuổi trở lên là điểm mới.
Trước đây, pháp luật quy định tuổi đăng ký tuyển công chức từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi. Quy định như vậy là nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tham gia vào công chức khi đến tuổi được nghỉ chế độ, nhưng nó đã hạn chế cơ hội của công dân, không tạo điều kiện thu hút được người có tài năng từ khu vực tư tham gia vào công vụ. Đến nay, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2008 đã có sử đổi, bổ sung, theo đó, bên cạnh hình thức bảo hiểm bắt buộc, đã có thêm hình thức bảo hiểm tự nguyện. Do đó Luật Cán bộ, công chức chỉ quy định độ tuổi tuyển dụng ở mức sàn là đủ 18 tuôi trở nên mà không khống chế độ tuổi tuyên dụng mở mức trần, miễn là còn trong độ tuôi lao động.
Điều kiện này có nghĩa là nếu còn trong độ tuổi lao động và trên 18 tuổi thì mọi công dân có đủ điều kiện quy định đều có cơ hội tham gia vào công vụ. Đủ sức khoẻ công tác: tiêu chuẩn này nhiều khi chưa được chú trọng đúng mức và thống nhất trong cách hiểu. Đây là tiêu chuẩn nhưng cũng đồng thời là điều kiện để tham gia công vụ. Sức khoẻ không chi đơn thuần liên quan đến 6m đau, bệnh tật, ma trong đó còn bao hàm cả khía cạnh tâm lý, tinh thần.
Không ai có thê hoàn thành tốt công vụ khi luôn ở trạng thái không cân bằng về tâm lý và mat ôn định về tinh thần. Ở nhiều nước, người dự tuyển công chức khi nộp hồ sơ dự tuyển không phải nộp giấy khám sức khoẻ của cơ quan y tế. Người ta chỉ kiểm tra sức khoẻ đối với người đã trúng tuyển (người đã đạt kết quả qua các vòng thi trước). Việc kiểm tra sức khoẻ được coi như vòng cuối cùng của nội dung thi tuyên.
Nếu không bao đảm sức khoẻ sẽ không được tuyển dụng, mặc dù đã trúng tuyển qua các vòng trước. Quy định như thế góp phần giảm thiểu thủ tục hành chính, giấy tờ và tiết kiệm thời gian của nhiều người- đây cũng là van đề mà Việt nam có thể tham khảo. Trong quá trình tham gia công vụ, nếu không đủ sức khoẻ thì công chức có thé xin thôi việc hoặc chuyển sang làm việc ở các khu vực phù hợp. Được cơ quan Nhà nước có thâm quyền tuyên dụng, bồ nhiệm hoặc hợp đồng lao động, được xếp vào một ngạch, bậc nhất định và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của cán bộ công chức. Do cán bộ, công chức là một nghề đặc thù nên đỏi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải lập trường, tư tưởng vững vàng, kiên định đối với đường lối đôi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của tổ quốc, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên lợi ích cá nhân; Chấp hành nghiêm quan điểm, chủ trương, đường lối, nghị quyết và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chấp hành tuyệt đối sự phân công của Đảng và của cơ quan Nhà nước Bên cạnh các đặc điểm chung nói trên, căn cứ vào từng ngành, từng lĩnh vực của hoạt động công vụ, công chức phải đạt được tiêu chuẩn cụ thé tương ứng với mỗi vị trí công tác. Đề đảm bảo hiệu quả của hoạt động công vụ, mỗi cán bộ công chức phải đạt được các yêu câu cụ thê phù hợp với mỗi vi trí cụ thê. Moi vi 10 trí thường được xác định tương ứng với một ngạch chức danh hoặc một chức vụ cụ thể, nhất định.
Mỗi ngạch và chức vụ có quy định tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ, năng lực găn với chức trách, nhiệm vụ cụ thể. Nếu người được bồ trí vào công vụ không đáp ứng được tiêu chuẩn của ngạch hoặc chức vụ quản lý thì không thể hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của vị trí đảm nhiệm. Quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức công 1. Khái niệm, đặc điểm quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức công 1.1 Khai niệm * Quản tri nguồn nhân lực Khái niệm quản tri nguồn nhân lực được trình bầy theo nhiều góc độ khác nhau như: Ở góc độ tô chức quá trình lao động: quản trị nguồn nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đồi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt) giữa con người với các yếu tô vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lượng) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu của con người và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con người.
Với tư cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nguồn nhân lực bao gồm từ hoạch định, tô chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển người lao động trong tô chức. Đi sâu vào chính nội dung hoạt động của quản trị nguồn nhân lực thì quản trị nguồn nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong tổ chức. Khi định nghĩa về nguồn nhân lực các nhà kinh tế cho rằng: Quản trị nguôn nhân lực là nghệ thuật lựa chọn các nhân viên mới và sử dụng các nhân 11 viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đạt mức tối đa có thẻ.