CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1. Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm Ngân sách nhà nước Có nhiều khái niệm khác nhau về NSNN như: Theo Bách khoa toàn thư về kinh tế học và khoa học quản lý do A.Silem biên soạn, NSNN (le budget) là một bản dự báo và cho phép thực hiện các khoản thu và các khoản chi trong năm của nhà nước [Encyclopedia of Economics and Management Science]. Định nghĩa của nhà khoa học người Pháp này nhấn mạnh tính kế hoạch thu, chi đã được phê chuẩn của nhà nước trong một niên hạn nhất định (một năm) mà chưa chú ý đến vị trí, tầm quan trọng cũng như bản chất của NSNN.
[20] Luật Ngân sách năm 2002, “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. [1] Luật ngân sách năm 2015 định nghĩa NSNN được chỉnh sửa, theo đó “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Vai trò của NSNN NSNN có 2 vai trò chính: Một là, NSNN giữ vai trò huy động các nguồn lực tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính nhà nước. [3] Hai là, NSNN giữ vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền KT-XH của nhà nước.
Hệ thống NSNN “Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện việc thu chi của mỗi cấp ngân sách. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.” [7] “Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.” [7] “Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương. Hệ thống các cấp NSNN Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN: Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia đòi hỏi phải cụ thể hóa bằng những quy định cụ thể: nhà nước Trung Ương ban hành các chính sách chế độ chi tiêu định mức thu chi tài chính chính 12 quyền nhân dân các cấp có trách nhiệm kiểm tra hướng dẫn và thực hiện nghiêm túc những chính sách chế độ thu chi tài chính mà nhà nước ta đã ban hành; chính quyền nhà nước các cấp không được tự ý ban hành các chính sách chế độ tài chính riêng trái với quy định của trung ương phải thực hiện việc thu chi theo đúng kế hoạch chính sách chế độ tài chính do tùng hương ban hành.[3] Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức hệ thống NSNN: phải coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ mới đảm bảo cho tổ chức hệ thống ngân sách vừa mang lại kết quả thiết thực vừa phát huy sức mạnh của hệ thống. Đảm bảo tính năng động sáng tạo của mỗi cấp cơ sở trên cơ trong việc xử lý các vấn đề ngân sách đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong hệ thống tổ chức ngân sách đòi hỏi phát huy triệt để quyền lực của Quốc Hội trong việc quyết định dự toán ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách nâng cao vai trò điều hành của các cơ quan pháp luật và cơ quan chuyên môn trong quá trình chấp hành dự toán ngân sách.
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 1. Khái niệm phân cấp quản lý NSNN “Phân cấp quản lý NSNN là giải quyết các mối quan hệ giữa chính quyền NNTW với các cấp chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề của hoạt động NSNN. Các nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước phải được tiến hành đồng bộ với phân cấp kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính. Phân cấp quản lý kinh tế là tiền đề và là điều kiện bắt buộc để thực hiện phân cấp quản lý NSNN, tổ chức bộ máy Nhà nước là cơ sở xác định phạm vi, mức độ thu chi của NS ở mỗi giai cấp chính quyền.
[3] Phân cấp quản lý NSNN đảm bảo thể hiện vai trò chủ đạo của ngân sách Trung Ương và vị trí độc lập của NSĐP trong hệ thống NSNN thống nhất. NSTW trên thực tế là ngân sách của cả nước, tập trung đại bộ phận nguồn thu của quốc gia và thực hiện các khoản chi trọng yếu của quốc gia. Các cấp chính quyền có quyền 13 lập, chấp hành và quyết toán ngân sách của mình trên cơ sở chính sách, chế độ đã ban hành. [3] Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước đảm bảo nguyên tắc công bằng.
Nội dung phân cấp quản lý NSNN Phân cấp quản lý NSNN là việc xử lý các mối quan hệ quyền lực quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương. Vì vậy nội dung phân cấp quản lý NSNN về cơ bản bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Một là, “giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính sách, chế độ thu chi quản lý NSNN.” [3] Hai là,” giải quyết các mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ chi, nguồn thu và cân đối NSNN.” [3] Ba là, “Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách. Chu trình ngân sách là quá trình lập chấp hành và quyết toán NSNN. Ngân sách nhà nước cấp huyện 1.
Khái niệm ngân sách nhà nước cấp huyện: Theo luật NSNN năm 2015, “Ngân sách địa phương là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.” [7] NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện. “NSNN cấp huyện là toàn bộ các hoạt động thu, chi NSNN được HĐND cấp huyện quyết định và được thực hiện trong một năm ể đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định chính trị, phát triển KT-XH, ANQP, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn huyện. Nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cấp huyện Theo nghị quyết 26/2016 của hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre qui định nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cấp huyện như sau: 1. Nguồn thu ngân sách nhà nước cấp huyện “Các khoản thu ngân sách cấp huyện hưởng 100%:” “Lệ phí môn bài của các tổ chức, cá nhân kinh doanh do huyện, thành phố thu; Thuế tài nguyên của các đơn vị do huyện, thành phố quản lý thu;” “Lệ phí trước bạ (không kể lệ phí trước bạ nhà đất);” “Tiền thuê mặt đất, mặt nước (không kể tiền thuê đất, thuê mặt nước từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” “Tiền thuê đất tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh);” “Thu tiền sử dụng đất (không kể tiền sử dụng đất do tỉnh quản lý);” “Tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước (không kể tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước do tỉnh quản lý);” “Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho huyện, thành phố theo quy định của pháp luật;” “Các khoản phí, lệ phí phần nộp ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật do các cơ quan, đơn vị thuộc huyện, thành phố tổ chức thu;” “Thu sự nghiệp phần nộp ngân sách của các đơn vị do cơ quan, đơn vị thuộc huyện, thành phố quản lý;” “Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật cho ngân sách cấp huyện;” “Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện;” “Thu kết dư ngân sách cấp huyện;” 15 “Các khoản thu khác của ngân sách cấp huyện theo quy định của pháp luật; Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;” “Thu chuyển nguồn từ năm trước chuyển sang của ngân sách cấp huyện.” [8] “Các khoản thu phân chia theo tỷ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách huyện, thành phố.
Ngoài ra ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã thực hiện phân chia tỷ lệ phần trăm (%) đối với nguồn thu lệ phí trước bạ nhà đất. Nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cấp huyện “Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, không có khả năng xã hội hóa hoặc xã hội hóa một phần thuộc lĩnh vực quản lý theo phân cấp của tỉnh. Trong phân cấp nhiệm vụ chi đối với thành phố Bến Tre có nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông công lập các cấp.” [8] Chi thường xuyên gồm: “Sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề;” “Sự nghiệp y tế” “Sự nghiệp văn hóa – thông tin, phát thanh – truyền hình thể dục, thể thao” “Chi đảm bảo xã hội và các sự nghiệp khác do cơ quan cấp huyện quản lý;” “Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý “Các sự nghiệp kinh tế khác” “Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội phân cấp cho huyện, thành phố quản lý” “Hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước cấp huyện, thành phố” “Hoạt động của các cơ quan cấp huyện của Đảng Cộng sản Việt Nam” “Hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện, thành phố: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, 16 Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân; Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp theo quy định của pháp luật;” “Các chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương, tỉnh uỷ quyền cho huyện, thành phố quản lý và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.” [8] “Bên cạnh đó còn chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới và chi chuyển nguồn ngân sách cấp huyện.