CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Chi ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm chi ngân sách Nhà nước Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của Nhà nước trong từng công việc cụ thể, có quy mô và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực (13 lĩnh vực chi) tại các địa phương và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước [17]. Đặc điểm chi ngân sách Nhà nước Trong mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn lịch sử, chi NSNN mang những nội dung cơ cấu khác nhau nhưng chi NSNN chủ yếu có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, chi NSNN luôn gắn chặt với bộ máy nhà nước nhà nước, với bộ máy càng lớn,càng nhiều nhiệm vụ thì mức độ và phạm vi chi của NSNN càng lớn và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước phải đảm đương trong thời kỳ.
Thứ hai, các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, việc làm, ổn định giá cả, cân bằng cán cân thanh toán. Thứ ba, các khoản chi của NSNN mang tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện qua việc các tổ chức hoặc cá nhân nhận được vốn, kinh phí từ NSNN không phải ghi nợ và cũng không phải hoàn trả lại một cách trực tiếp cho ngân sách. Thứ tư, các khoản chi của NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, v. Phân loại chi ngân sách Nhà nước Chi ngân sách nhà nước theo quy định tại mục 2 Điều 5 Luật ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 bao gồm: Chi đầu tư phát triển; Chi dự trữ quốc gia; Chi thường xuyên (chi thường xuyên và chi không thường xuyên, chi 5 mục tiêu quốc gia); Chi trả nợ lãi; Chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào mục đích chi của NSNN, chi NSNN được phân thành: - Các khoản chi để đảm bảo cho bộ máy Nhà nước hoạt động bình thường, bao gồm: + Các khoản chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất (xây mới, sửa chữa trụ sở cơ quan), mua sắm các trang thiết bị (điều hòa, hệ thống điện, hệ thống máy móc thiết bị) cho trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị thuộc Nhà nước; + Các khoản chi thường xuyên chi trực tiếp cho con người như tiền lương, phụ cấp lương (thêm giờ, phụ cấp độc hại, phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung…), tiền công, tiền khen thưởng, tiền phúc lợi, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp, chi cho cán bộ xã thôn, bản đương chức. + Các khoản chi thường xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước như: điện, nước, phí vệ sinh, điện thoại, mạng internet, sách, báo, tạp chí, văn phòng phẩm, tuyên truyền, công tác phí, tiếp khách, hội nghị … + Các khoản chi thường xuyên về chi nghiệp vụ chuyên môn: Hoạt động nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan, đơn vị ở mỗi ngành khác nhau, được đảm bảo bằng nguồn kinh phí thường xuyên của NSNN như: chi vật tư hàng hóa, tài sản chuyên dùng, chi trả nhuận bút, hợp đồng chuyên môn,… + Các khoản chi thường xuyên khác: Đó là các khoản chi chưa được xếp vào 3 nhóm mục chi trên như chi kỷ niệm các ngày lễ lớn, chi mua bảo hiểm, các khoản phí, lệ phí của các đơn vị dự toán, phí thanh toán chuyển khoản vào tài khoản của cá nhân, chi hỗ trợ khác, chi tiếp khách và các khoản chi khác, tất cả đều được xếp vào các mục trong mục lục ngân sách. - Chi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, bao gồm: + Chi cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh: tiền lương, tiền ăn, tiền trực, chi bồi dưỡng cho các lực lượng vũ trang. 6 + Chi cho phát triển văn hoá, giáo dục, y tế xã hội: Chi hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ ăn trưa, chi hỗ trợ miễn giảm học phí, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên, các đối tượng xã hội, … + Chi cho phát triển kinh tế như chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế: chi đầu tư cho cơ sở hạ tầng mới, chi sửa chữa duy tu đường, trụ sở, cầu… + Chi cho nhiệm vụ đối ngoại như việc đóng góp vào các quỹ Tài chính Quốc gia; chi phí cho đoàn ra (chi tiền vé, tiền phòng nghỉ, tiền phụ cấp cho đoàn đi công tác nước ngoài), chi phí cho việc đón tiếp đoàn nước ngoài vào Việt Nam; chi cho việc tổ chức hội nghị, giao lưu quốc tế… b.
Căn cứ vào tính chất sử dụng của các khoản chi, chi NSNN được phân chia thành các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. - Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện trong từng thời kỳ nhất định. - Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản (chi đầu tư mới, sửa chữa, duy tu các hạng mục công trình) và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Hình thức chi trả các khoản chi từ NSNN Việc sử dụng kinh phí chi thường xuyên được thực hiện qua 2 hình thức chi là rút dự toán NSNN và chi bằng lệnh chi tiền.
Đồng thời việc sử dụng kinh phí chi thường xuyên cũng được thực hiện thông qua 4 phương thức: Tạm ứng, thanh toán trực tiếp, tạm cấp kinh phí ngân sách, chi ứng trước dự toán cho năm sau. * Đối tượng chi trả theo hình thức rút dự toán, bao gồm: Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập (bệnh viện, trường học, …), các tổ chức chính trị xã hội và các đối tượng khác theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. * Đối tượng chi trả theo hình thức lệnh chi tiền, bao gồm: Chi hỗ trợc cho các đơn vị, các tổ chức kinh tế, xã hội không có quan hệ thường xuyên với Ngân sách Nhà nước, chi hỗ trợ cho các đơn vị cấp trên đóng trên địa bàn, 7 chi trả nợ nước ngoài, chi cho vay của Ngân sách Nhà nước, chi hỗ trợ cho địa phương về an ninh, quốc phòng chi kinh phí ủy quyền và một số khoản chi khác theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan tài chính. Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước 1.
Khái niệm và đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước 1. Khái niệm kiểm soát chi thường xuyên Kiểm soát chi là việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi ngân sách Nhà nước theo đúng chế độ, định mức chi ngân sách và theo dự toán chi tiêu đã được giao cho đơn vị và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. [10] Chi thường xuyên bao gồm 13 lĩnh vực chi: Chi Quốc phòng, Chi An ninh, Chi Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề, Sự nghiệp khoa học và công nghệ, Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; Sự nghiệp văn hóa thông tin; Sự nghiệp phát thanh, truyền hình, thông tấn; Sự nghiệp thể dục thể thao; Sự nghiệp bảo vệ môi trường; Chi sự nghiệp kinh tế; Chi Quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; Chi bảo đảm xã hội và Các khoản chi khác. Kiểm soát chi NSNN có 3 hình thức như sau: + Kiểm soát trước khi chi NSNN + Kiểm soát trong quá trình chi NSNN + Kiểm soát sau khi chi NSNN Hình thức kiểm soát trước khi chi NSNN là quan trọng nhất, vì kiểm soát trước khi chi sẽ ngăn ngừa và loại bỏ được những khoản chi tiêu không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, bảo đảm sử dụng vốn có hiện quả, chống lãng phí và thất thoát tiền và tài sản của Nhà nước.
Đặc điểm của kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN: * Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN có các đặc điểm sau: Một là, kiểm soát chi thường xuyên NSNN gắn liền với những khoản chi mang tính chất thường xuyên nên việc kiểm soát chi diễn ra đều đặn trong năm, có tính thời vụ. 8 Hai là, kiểm soát chi thường xuyên NSNN diễn ra trên nhiều lĩnh vực với nhiều nội dung nên rất đa dạng và phức tạp, KBNN thực hiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN theo dự toán, theo quy chế chi tiêu nội bộ, theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước và căn cứ vào các văn bản pháp luật, KBNN có quyền tử chối thanh toán nếu đơn vị sử dụng NSNN không chấp hành đúng theo quy định kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN. Ba là, kiểm soát chi thường xuyên thường kèm theo áp lực về mặt thời gian, thời gian kiểm soát chỉ từ 1 đến 2 ngày, phần lớn những khoản chi thường xuyên đều mang tính cấp thiết như chi về tiền lương, tiền công gắn với cuộc sống hàng ngày của cán bộviên chức, chi về nghiệp vụ chuyên môn nhằm đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước, vì vậy việc kiểm soát các khoản chi luôn đòi hỏi phải được thực hiện theo đúng thời gian, giải quyết đúng hạn đảm bảo thanh toán tới các đối tượng thụ hưởng. [11] * Nguyên tắc kiếm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN: Thứ nhất, tất cả các khoản chi thường xuyên NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình thanh toán, chi trả, các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được cấp có thẩm quyền giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định, được xây dựng trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi.
Thứ hai, mọi khoản chi thường xuyên NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách, tài khoản, mã quan hệ ngân sách, mã nguồn và hạch toán đúng mục lục ngân sách Nhà nước về mã chương, mã khoản, mã nội dung kinh tế. Các khoản chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ, bằng hiện vật và ngày công lao động phải được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ do Ngân hàng Nhà nước ban hành, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.