Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước; Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp khối y tế, giáo dục tại Kho bạc Nhà nước Hải Phòng giai đoạn 2014–2018; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác chi thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp khối y tế, giáo dục tại Kho bạc Nhà nước Hải Phòng giai đoạn 2019- 2023. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm về chi thường xuyên và công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước 1. Khái niệm và đặc điểm chi thường xuyên 1.
Khái niệm “Chi thường xuyên là một trong những nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh” [10] 1. Đặc điểm của chi thường xuyên “Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện trong từng thời kỳ nhất định” [13] “Chi ngân sách Nhà nước thể hiện tính pháp lý cao, nó gắn với quyền lực của Nhà nước” [9] Các khoản chi của ngân sách Nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Nguồn dự toán NSNN thực hiện chi trả cho các khoản chi thường xuyên được phân bổ tương đối đồng đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý và giữa các năm ngân sách trong kỳ kế hoạch. Việc sử dụng kinh phí chi thường xuyên được thực hiện qua 2 hình thức chi là rút dự toán NSNN và chi bằng lệnh chi tiền.
Đồng thời việc sử dụng kinh phí chi thường xuyên cũng được thực hiện thông qua 4 phương thức: Tạm ứng, thanh toán trực tiếp, tạm cấp kinh phí ngân sách, chi ứng trước dự toán cho năm sau. 5 “Chi thường xuyên được đánh giá hiệu quả không thể định lượng được cụ thể, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển. Kết quả của chi thường xuyên thể hiện ở mặt kinh tế và sự ổn định chính trị - xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia. Có thể thấy chi thường xuyên có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội và chính trị của một quốc gia” [12] 1.
Khái niệm về công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước “Kiểm soát chi ngân sách Nhà nước là việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi ngân sách Nhà nước theo đúng chế độ, định mức chi ngân sách và theo dự toán chi tiêu đã được giao cho đơn vị và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” [14]. Nội dung công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Việc kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước phải kiểm soát theo đúng quy trình và được thể hiện qua sơ đồ quy trình lập dự toán, thẩm định, thanh toán và quyết toán dưới đây: Cơ quan Tài chính Đơn vị sử dụng thực hiện thẩm định Nguồn thu NSNN lập dự toán Ngân sách dự toán và cấp dự toán Nhà nước Đơn vị sử dụng NSNN lập chứng từ chuyển tới Kho bạc KBNN Thực hiện kiểm Cơ quan Tài chính cùng soát chi các khoản thanh cấp thực hiện quyết toán toán và thực hiện chi cho NSNN đơn vị Sơ đồ 1. Quy trình kiểm soát chi NSNN 6 1. Kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ, chứng từ Đơn vị sử dụng Ngân sách phải thực hiện lập chứng từ đảm bảo đúng mẫu theo quy định và ghi đầy đủ các yếu tố trên chứng từ được hướng dẫn như ngày, tháng, năm lập chứng từ, tên đơn vị, mã quan hệ ngân sách, mã tài khoản, tên đơn vị hưởng…Nội dung của chứng từ phải phù hợp với mã nội dung kinh tế và phải có trong dự toán được giao.
Tất cả các liên chứng từ đem ra Kho bạc phải giống nhau, tuyệt đối không mang thừa liên chứng từ và được thủ trưởng đơn vị chuẩn chi, có đầy đủ chữ ký và dấu trên chứng từ. Số lượng liên chứng từ phải đầy đủ theo quy định hiện hành (chuyển khoản cho các đơn vị mở tài khoản tại Ngân hàng, mở tài khoản tại Kho bạc khác thông qua kênh Liên kho bạc , rút tiền mặt tại Kho bạc lập 02 liên chứng từ; chuyển khoản cho các đơn vị mở tài khoản tại Kho bạc cùng hệ thống với đơn vị sử dụng Ngân sách lập 03 liên chứng từ,…). Chứng từ gửi Kho bạc không được tẩy xoá, cạo sửa. Nội dung chi phải thực hiện đúng chế độ, định mức theo quy định.
Kiểm soát tính hợp pháp về chữ ký và mẫu dấu của đơn vị sử dụng NSNN Khi thực hiện giao dịch tại Kho bạc, đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước phải làm thủ tục đăng ký mẫu dấu, chữ ký theo hướng dẫn tại Thông tư 61/2014/TT-BTC ngày 12/5/2014 với các chức danh chủ tài khoản, người uỷ quyền chủ tài khoản (nếu có), kế toán trưởng, người uỷ quyền kế toán trưởng (nếu có); Hồ sơ đăng ký mẫu dấu, chữ ký và mở tài khoản ban đầu gồm: Quyết định thành lập đơn vị; Quyết định bổ nhiệm thủ trưởng, kế toán trưởng đơn vị; Giấy chứng nhận mã quan hệ ngân sách của đơn vị. Khi có thay đổi về chủ tài khoản hay kế toán trưởng thì phải thực hiện đăng ký thay đổi mẫu dấu, chữ ký; Hồ sơ gửi ra kho bạc chỉ gồm Quyết định bổ nhiệm của người có chữ ký thay đổi. Chứng từ gửi KBNN thanh toán phải là bản gốc, phải có đầy đủ chữ ký của Thủ trưởng đơn vị, Kế toán trưởng và phải giống với mẫu đã 7 đăng ký mở và sử dụng tài khoản hoặc mẫu đăng ký thay đổi mẫu dấu, chữ ký tại Kho bạc. Điều kiện cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN Điều kiện để Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả và thanh toán các khoản chi NSNN cho đơn vị sử dụng ngân sách: - Nhiệm vụ chi đã được bố trí trong dự toán chi NSNN được giao.
- Các Khoản chi do KBNN kiểm soát phải đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định trong các văn bản hiện hành còn hiệu lực thi hành. - Khoản chi đã được quyết định chi bởi thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền dưới hình thức văn bản hoặc bằng việc phê duyệt trên chứng từ và các hồ sơ thanh toán gửi KBNN kèm theo. - Khoản chi đảm bảo đầy đủ chứng từ và hồ sơ cần thiết để thanh toán. Kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước “Việc thanh toán các khoản chi ngân sách Nhà nước cho đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho đơn vị thụ hưởng là những người hưởng lương, người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Đối với các khoản chi chưa có điều kiện thực hiện việc chi trả trực tiếp như chưa hoàn thành công việc, chưa có đầy đủ hóa đơn, chứng từ, Kho bạc Nhà nước tạm ứng hoặc thanh toán cho đối tượng thụ hưởng qua đơn vị sử dụng ngân sách” [1], [2]. Hồ sơ gửi lần đầu bao gồm: - Quyết định giao dự toán được cấp có thẩm quyền giao trong năm ngân sách; trong đó chỉ rõ số tiền đơn vị được phép chi tiêu cho từng nhiệm vụ chi cụ thể đối với kinh phí không tự chủ; - Hợp đồng mua sắm hàng hóa, thiết bị, dịch vụ (đối với Khoản chi có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên); Trường hợp Khoản chi phải thực hiện đấu thầu theo quy định của Luật Đấu thầu thì ngoài hợp đồng đơn vị gửi 8 thêm: Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu để làm căn cứ kiểm soát thanh toán khoản chi mua sắm; - Các đơn vị gửi cho KBNN: + Quy chế chi tiêu nội bộ; Quyết định giao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp của cấp có thẩm quyền. + Quy chế chi tiêu nội bộ trong trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách là cơ quan hành chính Nhà nước. Kiểm soát chi tạm ứng chi NSNN đối với các đơn vị sử dụng NSNN Tạm ứng chi NSNN là việc chi tiền cho các khoản chi ngân sách Nhà nước cho đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước khi khoản chi ngân sách Nhà nước của đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước chưa có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định do công việc chưa được nghiệm thu và chưa hoàn thành.
Nội dung tạm ứng: - Tạm ứng bằng tiền mặt: Nội dung tạm ứng bằng tiền mặt cho đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước, bao gồm các khoản chi: Các khoản chi thanh toán cá nhân, chi xây dựng cơ bản, chi một số nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ, chi trả nợ dân, chi mua lương thực dự trữ quốc gia; các khoản chi có giá trị nhỏ hơn 5 triệu đồng đối với một khoản chi; các khoản chi khác của đơn vị sử dụng ngân sách cho các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ không có tài khoản tại ngân hàng do khó khăn về địa lý xa xôi như những người bán hàng thực phẩm nhỏ ngoài chợ,., trừ những khoản chi cho những công việc cần phải thực hiện đấu thầu theo chế độ quy định cũng được tạm ứng bằng tiền mặt.