Chương 1 khái niệm: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Khái niệm này vẫn thể hiện quan điểm Nhà nước đề cao sở hữu nhà nước đối với các Doanh nghiệp nhà nước. Luật DNNN sô 14/2003/QH11 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam quy định mô hình quản lý của các DNNN gồm: + Công ty nhà nước, + Công ty TNHH nhà nước, + Công ty Cổ phần nhà nước, Trong Kỳ họp Quốc hội lần thứ VIII, Khóa XI, ngày 29 tháng 11 năm 2005, 7 Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 Quy định “DNNN (hay Quốc doanh) là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Ngày 01/7/2015 Quốc hội ban hành văn bản số 68/2014/QH13 thay thế cho Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật doanh nghiệp số 37/2013/QH13 ngày 20/6/2013 với nhiều điểm tiến bộ, nhiều quy định còn hạn chế, giúp tháo gỡ nhiều khó khăn hạn chế cho doanh nghiệp trong quá trình đăng ký thành lập, hoạt động kinh doanh, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bắt kịp xu hướng chung trong nền kinh tế thị trường đầy biến động của thế giới.
Khoản 8 Điều 4 khái niệm: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Năm 2020, Quốc hội ban hành Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020, thì doanh nghiệp nhà nước được quy định như sau: “1. Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm: a. Doanh nghiệp do Nhà nước nám giữ 100% vốn điều lệ; b.
Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, trừ doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này bao gồm: a. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; b. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này bao gồm: a. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà 8 nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; b. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nằm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết” – Khoản 1 & 2, điều 88 Chương VI. Việc thay đổi này hoàn toàn có thể thấy rằng việc quy định về doanh nghiệp Nhà nước đã trãi qua rất nhiều thay đổi từ luật doanh nghiệp năm 1995 đến nay.
Từ doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp Nhà nước khi nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần, rồi đến doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp Nhà nước khi nắm 100% vốn điều lệ và hiện nay một doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp Nhà nước khi Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần. Việc thay đổi này hoàn toàn phù hợp với tình hình kinh tế nước ta hiện nay. Việc nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thị trường toàn cầu, đặc biệt là Nhà nước ta ngày càng tham gia nhiều vào các hiệp định thương mại tự do, tiêu biểu như hiệp định “Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương”.1 chương 17 trong hiệp định có quy định rất rõ về khái niệm doanh nghiệp Nhà nước như sau: “Doanh nghiệp sở hữu nhà nước là một doanh nghiệp chủ yếu tham gia vào các hoạt động thương mại trong đó một bên: (a) trực tiếp sở hữu hơn 50% vốn cổ phẩn; (b) kiểm soát, thông qua những ích lợi sở hữu, hơn 50% quyền bỏ phiếu; (c) có quyền bổ nhiệm đa số thành viên của Ban giám đốc hoặc bất kỳ cơ quan quản lý tương đương khác” Việc thay đổi làm cho các văn bản pháp luật về quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp của nước ta phù hợp với các quy định trong các hiệp định thương mại tự do mà nước ta ký kết tham gia”. Từ quan niệm trên có thể xem xét một số đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước như sau: - Chủ đầu tư: Là Nhà nước hoặc Nhà nước cùng với các tổ chức, cá nhân khác.
Với tư cách là chủ đầu tư duy nhất vào doanh nghiệp, nhà nước có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến sự tồn tại và hoạt động của từng doanh nghiệp 9 nhà nước. Trong đó, Nhà nước có quyền quyết định về hình thành, tổ chức lại và định đoạt; quyết định mục tiêu, chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính; quyết định mô hình tổ chức quản lý, quyết định giải thể; kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp… - Sở hữu vốn: + Hình thức thứ nhất: Nhà nước sở hữu vốn điều lệ 100%, + Sở hữu phần vốn góp điều lệ chi phối từ trên 50% và dưới 100%. - Hình thức tồn tại + Nếu DN do NN sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình như: công ty nhà nước, công ty CPNN (Cổ phần nhà nước), công ty TNHH nhà nước một TV, công ty TNHH nhà nước. + Nếu DN do NN sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại như sau: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Trách nhiệm tài sản: phạm vi quản lý tài sản của doanh nghiệp do DN chịu trách nhiệm. Phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp NN chịu trách nhiệm hữu hạn. - Tư cách pháp lý: DNNN có tên riêng, con dấu riêng và có tư cách pháp nhân. - Luật áp dụng: Các công ty nhà nước đã thực hiện chuyển đổi thành công ty CP, công ty TNHH được tổ chức và hoạt động theo Luật DN.
Các loại DNNN khác tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp.2 Phân loại doanh nghiệp Nhà nước 1.1 Hình thức tổ chức: có 5 loại gồm: - Công ty nhà nước: do nhà nước sở hữu toàn bộ 100% vốn điều lệ. Công ty được thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động dưới hình thức công ty Nhà nước độc lập và tổng công ty nhà nước. - Công ty CP nhà nước: vốn góp của cổ đông là toàn bộ các công ty nhà nước hoặc đơn vị tổ chức được nhà nước ủy quyền. - Công ty TNHH nhà nước một thành viên: vốn điều lệ do NN sở hữu toàn bộ.
Công ty được tổ chức quản lý và đăng ký theo Luật doanh nghiệp năm 2005. 10 - Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có từ hai thành viên trở lên: + Là công ty TNHH có duy nhất thành viên đều là công ty nhà nước + Là công ty có thành viên là công ty nhà nước, thành viên được ủy quyền góp vốn. Được tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp. - Doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước: Cổ phần hoặc vốn góp của NN chiếm trên 50% vốn điều lệ.
Quyền chi phối doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ.2 Nguồn vốn: có hai loại - Vốn sở hữu 100% DNNN do Nhà nước nắm giữ: như Công ty nhà nước, công ty CPNN, công ty TNHH nhà nước MTV, công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên. - DN do nhà nước có cổ phần, vốn góp chi phối: Nhà nước chiếm trên 50% cổ phiếu, công ty TNHH vốn góp do nhà nước chiếm trên 50%.3 Mô hình tổ chức quản lý: có hai loại - DNNN có Hội đồng quản trị là cơ quan chịu trách nhiệm trước nhà nước, đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước. - DNNN không có hội đồng quản trị thì người thực hiện điều hành hoạt động của doanh nghiệp sẽ do Nhà nước bổ nhiệm hoặc thuê Giám đốc. Trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ ĐH và trong thực tiễn của đời sống KT-XH đã khẳng định vai trò quan trọng của các DNNN trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Các DNNN đã tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, huy động nguồn vốn, tăng môi trường cạnh tranh, tăng nguồn thu cho NSNN, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế… Hiện nay, với sự phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, tầm quan trọng trong việc dẫn dắt, tạo động lực, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển, hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp cần phải được các Doanh nghiệp nhà nước xác định rõ ràng, qua đó, chuỗi giá trị gia tăng liên kết theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng được phát triển.tiên tiến, tăng.50-KL/TW ngày 30/5/2019 của.Nghị quyết Hội nghị.Trung ương VI (khóa.sự nghiệp công nghiệp.kiện KTNN định.nhập quốc tế.trường định.thị trường. Đảng ta đến Đại hội XIII khẳng định: “Kinh tế nhà nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục các “khuyết tật” của cơ chế thị trường. Các nguồn lực kinh tế nhà nước được sử dụng phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước và cơ bản được phân bổ theo cơ chế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng – an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”2.theo chính.và hoạt động của.Chính phủ,.0,3% khu vực cả.doanh lỗ (chiếm 18,8%); DN.DN trên cả.2,8% số DN trên.người lao.đồng/tháng/ người.000 đồng/tháng/ người,.nhưng khu.tỷ đồng, chiếm 22,2%.