CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1.Doanh nghiệp viễn thông và nguồn nhân lực trong doanh nghiệp viễn thông 1.Đặc điểm doanh nghiệp viễn thông Doanh nghiệp viễn thông là Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông, gồm 2 loại hình chính: - Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng là thiết lập hạ tầng mạng phục vụ cho quá trình cung cấp các dịch vụ viễn thông đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như toàn xã hội. - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của Pháp luật để cung cấp các dịch vụ viễn thông. Doanh nghiệp Viễn thông, tham gia vào quá trình sản xuất ngoài mạng lưới các phương tiện, thiết bị thông tin, đối tượng lao động trong doanh nghiệp viễn thông có các lao động kỹ thuật và hành chính cũng như nhân viên bán hàng có vai trò tương tác và hỗ trợ lẫn nhau như một số doanh nghiệp khác. Tuy nhiên do đặc thù của ngành viễn thông là một ngành dịch vụ nên lao động trong các doanh nghiệp viễn thông có những nét đặc trưng riêng như sau: - Thứ nhất : tổ chức hoạt động sản xuất của doanh nghiệp viễn thông theo mạng lưới thống nhất dây truyền , để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm cần có sự phối kết hợp của nhiều đơn vị Bưu điện.
Mỗi đơn vị làm những khâu công việc khác nhau nên lao động của các đơn vị này phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, chuyên môn hoá. - Thứ hai : tính chất của doanhdoanh nghiệp viễn thông là vừa kinh doanh vừa phục vụ, mạng lưới rộng khắp trên quy mô toàn lãnh thổ (từ đồng bằng đến miền núi, hải đảo). Do đó, việc bố trí lao động hợp lý luôn là một vấn đề khó khăn, cấp bách. Bố trí lao động viễn thông phải đảm bảo nguyên tắc: bố trí đúng trình độ, 6 đúng khả năng chuyên môn, tiết kiệm được lao động, khuyến khích được người làm việc ở vùng sâu, vùng xa, tiết kiệm được chi phí.
- Thứ ba : do tính đa dạng của công việc nên lao động viễn thông trong các doanh nghiệp viễn thông cũng rất đa dạng, bao gồm: Lao động khai thác phụ trợ (nhân viên bán dịch vụ, makerting sản phẩm dịc vụ), lao động kỹ thuật ( hạ tầng mạng, lắp đặt dịch vụ, sửa chữa hệ thống…), lao động quản lý. Đứng trước sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ hiện nay, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp viễn thông nói riêng không ngừng đào tạo và đào tạo lại cán bộ ,đầu tư xây dựng, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý. nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả của quá trình lao động. Tuy nhiên, một vấn đề thực tế đặt ra là các doanh nghiệp này có đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại đến đâu mà nguồn lao động không được chú trọng đầu tư, phát triển đúng mức thì hiệu quả đem lại cũng hạn chế.
Với doanh nghiệp viễn thông, sản phẩm của ngành là sản phẩm vô hình, do vậy nhân tố con người trong quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ sẽ làm tăng tính hữu hình của sản phẩm, dịch vụ. Chính vì thế, yếu tố con người trong các doanh nghiệp này không những quyết định đến số lượng mà còn quyết định đến chất lượng của sản phẩm dịch vụ.Nguồn nhân lực của doanh nghiệp viễn thông 1.Khái niệm nguồn nhân lực của doanh nghiệp viễn thông Theo một số giáo trình có đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực như sau: - Nhân lực: Là nguồn lực của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực. - Nguồn nhân lực: Là nguồn lực của con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường.
Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. 7 Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động sản xuất. Các yếu tố và phân loại nguồn nhân lực trong doanh nghiệp viễn thông Các yếu tố cơ bản cấu thành nên nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp viễn thông: - Số lượng nhân lực: chính là tổng số người được tổ chức thuê vào làm việc được trả lương hàng tháng và có tên trong danh sách nhân sự của tổ chức đó. - Cơ cấu tuổi: cơ cấu về tuổi được thể hiện thông qua các nhóm tuổi khác nhau của nguồn nhân lực.
- Chất lượng của nguồn nhân lực: biểu hiện qua các chỉ tiêu về trình độ chuyên môn, trình độ văn hoá, hiểu biết xã hội, tình hình sức khoẻ, thể lực… - Thứ bậc của nhân lực: lực lượng nguồn nhân lực được phân thành các thứ bậc khác nhau thông qua quá trình và kết quả lao động sản xuất của mỗi cá nhân. Thứ bậc được phân chia từ cấp cao đến cấp thấp. Qua đây, người lao động có thể đánh giá được năng lực làm việc của mình, phản ánh những bước thăng tiến trong bước đường công danh sự nghiệp. Nguồn nhân lực tổng hợp rất nhiều yếu tố đa dạng và phức tạp chính vì vậy, các nhà quản lý phải hiểu biết thật sâu rộng, biết cách nắm bắt tâm lý thì mới mong đạt được hiệu quả cao.
Trong ngành Viễn thông, lao động được chia làm ba loại: Lao động quản lý Lao động công nghệ, kỹ thuật Lao động phụ trợ Cả ba loại lao động trên đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên chiếm tỷ lệ lớn nhất và giữ vị trí then chốt trong toàn bộ quá trình sản xuất của doanh nghiệp là lao động công nghệ, những người trực tiếp làm nên chất lượng của sản phẩm, dịch vụ viễn thông. Yêu cầu đối với nhân lực của doanh nghiệp viễn thông a. Kiến thức Nguồn nhân lực phục vụ trong doanh nghiệp viễn thông phải có kiến thức với bằng cấp chuyên ngành trình độ từ đại học trở lên, có hệ thống kiến thức về công nghệ thông tin vững chắc, đặc biệt là những lao động làm công việc kỹ thuật đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao về công nghệ thông tin. Ngoài ra nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực này đòi hỏi phải có kiến thức tiếng Anh để có thể tìm hiểu và cập nhật những hường dẫn công nghệ mới áp dụng vào cơ quan đơn vị mình công tác.
Kỹ năng, chuyên môn: Nguồn nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp viễn thông cấn có những kỹ năng sau đây: - Kỹ năng kỹ thuật là những kỹ năng mang tính chất kỹ thuật phần mềm, phần cứng, công nghệ trrong hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông. Nhân lực làm việc trong lĩnh vực viễn thông phải am hiểu về kỹ thuật phần mềm và phần cứng nếu là nhân viên phụ trợ và lao động quản lý, phải thành thạo các kỹ năng chuyên môn về mạng truyền thông, phần mềm, phần cững nếu là nhân viên kỹ thuật - Kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh là một kỹ năng buộc phải có đối với nhân lực làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông khi mà đa số tài liệu văn bản hướng dẫn, kỹ thuật công nghệ cũng như các môn học phần mềm về công nghệ thông tin – truyền thông và các công việc thực tế đều sử dụng tiếng Anh. Hơn nữa tiếng Anh còn thông dụng đối với khách hàng, đối tác Quốc tế trong ngành viễn thông. - Kỹ năng mềm bao gồm kỹ năng như trình bày văn bản, kỹ năng thảo luận, kỹ năng seminar, kỹ năng giao tiêp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng cập nhật công nghệ thông tin đây là những kỹ năng cần thiết đối với lao động làm việc trong không chỉ ngành viễn thông mà còn trong hầu hết các ngành, bởi nó giúp người lao động tự tin trong công việc, nâng cao hiệu quả làm việc, tiết kiệm về thời gian và sức lao động cho người lao động 9 - Kỹ năng tư duy: nhân lực trong lĩnh vực viễn thông cần có một tư duy mở.
Bởi các kỹ sư công nghệ thông tin thường giỏi về tư duy logic, làm việc độc lập nhưng lại kém về giao tiếp, kỹ năng trình bày và sự thuyết phục hiệu quả. Bên cạnh tư duy logic, yêu cầu nhân lực viễn thông phải có tư duy tổng thể, tư duy kinh doanh và tư duy khách hàng. Thái độ và khả năng học hỏi sáng tạo: Nguồn nhân lực trong viễn thông với đặc thù cug cấp dịch vụ, giao dịch với khách hàng đòi hỏi phải trang bị cho mình kỹ năng mềm và một thái độ phục vụ nhiệt tình, vui vẻ và thân thiện với khách hàng. Vơi đồng nghiệp phải hòa đồng, gần gũi giúp đỡ lẫn nhau để tạo mối quan hệ đoàn kết trong cơ quan đơn vị mình giúp phát huy tính hiệu quả trong làm việc nhóm.
Đặc biệt nguồn nhân lực trong doanh nghiệp viễn thông phải có khả năng học hỏi và sáng tạo, cũng như làm việc độc lập. Sức khỏe: Có đầy đủ sức khỏe theo quy định của luật lao động, quy định của công ty để đảm bảo khối lượng công việc sẽ đảm trách. Không bị nói ngọng, dị tật. để đảm bảo tạo mối thân thiện khi giao tiếp làm việc 1.
Quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp viễn thông 1. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp viễn thông Sự thành công và thất bại của một doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp viễn thông nói riêng đã chỉ ra rằng nguồn lực quan trọng nhất của các doanh nghiệp là con người, nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chính vì vậy hoạt động quản lý nguồn nhân lực là một bộ phận không thể thiếu của quản lý mọi doanh nghiệp, để củng cố và duy trì số lượng và chất lượng nhân lực cần thiết cho doanh nghiệp nhằm đạt mực tiêu đề ra. Quản lý nguồn nhân lực liên quan đến con người và những nhân tố xác định mối quan hệ giữa con người với tổ chức sử dụng con người đó.
Tại một thời điểm nào đó trong quá trình hoạt động của nó, một tổ chức có thể cần ít hoặc nhiều nhân lực tùy thuộc vào yêu cầu của các hoạt động trong tổ chức.