Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý ngoại hối của Ngân hàng Trung ương. Chương 2: Thực trạng công tác Quản lý ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Bắc Giang Chương 3: Hoàn thiện công tác Quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Bắc Giang. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG.1 Khái niệm về Ngoại hối và Quản lý ngoại hối.
Trong nền kinh tế hiện đại, mỗi quốc gia đều có nhu cầu sử dụng ngoại hối để nhập khẩu hàng hóa hay can thiệp vào thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, điều hòa cán cân thanh toán quốc tế… Do ảnh hưởng lớn của ngoại hối đối với đời sống kinh tế-xã hội nên chính phủ ở mỗi quốc gia đều tìm cách chọn lựa cho mình những chính sách thích hợp, trong việc quản lý ngoại hối và điều tiết hoạt động ngoại hối. Cho đến nay, các công trình nghiên cứu chưa đưa ra định nghĩa chính thức về ngoại hối.Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu về ngoại hối đều thống nhất quan điểm cho rằng ngoại hối là danh từ dung để chỉ các phương tiện trong thanh toán quốc tế như ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế và các giấy tờ có giá chi bằng ngoại tệ. Trên góc độ hoạch định chính sách và quản lý, ngoại hối được hiểu là toàn bộ các loại tiền tệ nước ngoài, các phương tiện chi trả có giá trị bằng tiền nước ngoài, các chứng từ, chứng khoán có giá trị ngoại tệ và toàn bộ các loại kim khí, đá quý đều thuộc phạm vi ngoại hối cần quản lý. Theo Điều 4, Pháp lệnh ngoại hối 2005, có thể hiểu: “ Ngoại hối là danh từ dùng để chỉ các phương tiện dùng trong thanh toán quốc tế như ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế và các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ”.
Ngoại hối ở đây được định nghĩa bằng cách liệt kê các tài sản được coi là ngoại hối: - Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ); - Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác; - Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; - Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Như vậy, khái niệm về ngoại hối đã được đề cập ở trên đây, Quản lý ngoại hối là một hệ thống các biện pháp mà Ngân hàng Trung ương (NHTW) sử dụng để kiểm soát các giao dịch bằng ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ và vàng). Nói cách khác , QLNH là hệ thống kiểm soát luồng Ngoại hối nhập vào và chuyển ra khỏi của một đất nước. QLNH thể hiện các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động ngoại hối để đạt tới mục tiêu quản lý kinh tế, các chính sách nhằm khơi thông hoặc hạn chế luồng ngoại hối nhằm thực hiện các chính sách phát triển kinh tế của Quốc gia trong từng thời kỳ.
Quản lý nói chung gồm 5 yếu tố cấu thành là: Kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Điều chỉnh và Kiểm soát. Khái niệm QLNH trong luận văn này là khái niệm quản lý Nhà nước về ngoại hối và hoạt động ngoại hối theo nghĩa rộng, nó bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, văn bản dưới luật cho đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng quản lý và kiểm tra, xử lý các vi phạm. QLNH là một quá trình xuyên suốt từ việc xây dựng, ban hành các văn bản, quy phạm pháp luật về QLNH; tuyên truyền, phổ biến cơ chế, chính sách pháp luật về QLNH; tổ chức thực hiện chiến lược cơ chế chính sách về QLNH đến việc tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về QLNH. Mục tiêu của QLNH QLNH nói chung nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ngoại hối, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế; thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia, nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền quốc gia.
Mục tiêu của QLNH được quyết định bởi mục tiêu phát triển kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Mục tiêu QLNH tổng thể mà hầu hết các quốc gia đều phấn đấu là đạt được sự cân đối giữa nền kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ nhất, điều tiết tỷ giá, thực hiện Chính sách tiền tệ quốc gia: Tỷ giá hối đoái là biểu mặt giá trị giữa một đơn vị đồng tiền nước này so với một đơn vị đồng tiền nước khác. NHTW thực hiệncác biện pháp nhằm tập trung các nguồn ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) vào tay mình để thông qua đó Nhà nước sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả cho nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động đối ngoại khác, NHTW thực hiện các động tác kỹ thuật vào lượng cung tiền thông qua mua bán ngoại hối trên thị trường để can thiệp vào tỷ giá khi cần thiết, nhằm ổn định tỉ giá của đồng tiền.
Thứ hai, bảo tồn Quỹ dự trữ ngoại hối: NHTW là cơ quan quản lý tài sản quốc gia nên NHTW phải quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia. Quản lý quỹ không chỉ việc bảo quản, cất trữ mà còn phải biết sử dụng phục vụ cho đầu tư phát triển kinhtế, đảm bảo cho quỹ không chịu rủi ro tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế. Do vậy, NHTW phải mua bán để tránh thất thoát, đảm bảo giá trị đồng nội tệ. Thứ ba, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và đảm bảo tính thanh khoản ngoại hối: Cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáo thống kê tổng hợp, có hệ thống, ghi chép lại tất cả các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh quan hệ thu chi của một nước với nước ngoài, xu hướng cung cầu ngoại tệ trong các giao dịch quốc tế nên nó tác động rất lớn tới tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ. Muốn đảm bảo tính thanh khoản yêu cầu NHTW phải tích lũy một lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn và đòi hỏi đó phải là những tài sản có tính thanh khoản cao và NHTW có thể sử dụng bất cứ lúc nào. Do vậy, trong công tác quản lý dự trữ ngoại hối, NHTW cần phải xác định mức dự trữ quốc tế phù hợp trên cả tiêu chí tính theo thời gian nhập khẩu và các tỷ lệ phù hợp đảm bảo độ thanh khoản của các tài sản.Khi cán cân thanh toán bội thu lượng ngoại tệ chảy vào trong nước dẫn đến cung ngoại tệ tăng làm tỷ giá theo xu hướng giảm và ngược lại. Nếu không có sự can thiệp của NHTW, tỷ giá sẽ biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường.
Vì thế, một số nước trên thế giới, NHTW có nhiệm vụ điều tiết tỷ giá để thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế, nghĩa là NHTW phải mua ngoại tệ khi cung lớn hơn cầu (làm tăng dự trữ) và bán ngoại tệ khi cung nhỏ hơn cầu (làm giảm dự trữ). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Thứ tƣ, phối hợp với việc điều hành CSTT và quản lý dự trữ ngoại hối để đảm bảo mục tiêu về lạm phát.Trong trường hợp NHTW can thiệp trên thị trường ngoại hối với vai trò là người bán ngoại tệ đồng nghĩa với việc hút tiền về do vậy mục tiêu kiểm soát lạm phát có khả năng đạt được. Tuy nhiên, mặc dù việc bán ngoại tệ sẽ góp phần làm đồng tiền nội tệ lên giá có ảnh hưởng tốt tới việc kiểm soát lạm phát song lại ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu vì đồng nội tệlên giá thì sức cạnh tranh của hàng hóa của quốc gia đó sẽ yếu đi. Do vậy, khi điều hành CSTT theo mục tiêu lạm phát, việc QLNH luôn luôn phải hỗ trợ mục tiêu này và phải đánh đổi với việc đạt được các mục tiêu khác như tăng dự trữ ngoại hối nhà nước và đảm bảo tỷ giá có lợi cho xuất khẩu.
Thứ năm, kiểm soát tình trạng đô la hóa (ĐLH) nền kinh tế.ĐLH là hiện tượng công dân của một quốc gia (khu vực) sử dụng ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi cao- chủ yếu là đô la Mỹ (USD) - làm phương tiện dự trữ, công cụ thanh toán, thậm chí làm thước đo giá trị. Hiện tượng này được biểu hiện dưới hai hình thức, một là, số lượng ngoại tệ lưu thông trong nền kinh tế cao; hai là, xu hướng chuyến từ bản tệ sang ngoại tệ mạnh khi có một biến động bất thường trong nền kinh tế vĩ mô cao. Trong những điều kiện cụ thể, ĐLH có thể phát huy những mặt tích cực như tăng cùng ngoại tệ, giảm áp lực lạm phát hoặc làm chỗ dựa cho nền kinh tế khi đồng bản tệ quá suy yếu.Nếu lạm dụng, để kéo dài với mức độ cao thì ĐLH sẽ gây tác hại ở thời kỳ sau, đặc biệt khi đồng nội tệ đã phục hồi và nền kinh tế đang phát triển.Cụ thể, ĐLH làm mất chủ quyền về tiền tệ, làm cho thị trường ngoại hối kém phát triển do các quan hệ vay - trả bằng ngoại tệ lấn át các quan hệ mua bán ngoại tệ.ĐLH làm giảm khả năng chuyển đổi của đồng tiền, tạo điều kiện cho buôn lậu phát triển, ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất trong nước. Nhà nước không những thất thu về thuế mà còn mất cả nguồn thu từ việc phát hành đồng nội tệ.
Về dài hạn, ĐLH có những tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế bền vững do nó làm giảm chất lượng hoạch định và thực thi CSTT, giảm hiệu quả của chính sách tỷ giá, tạo ra nguy cơ mất an toàn hệ thống ngân hàng vì NHTW không thực hiện được vai trò - Người cho vay cuối cùng của mình.