mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 03 chƣơng. -3- CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1. Dự án đầu tƣ xây dựng công trình 1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dƣới sự rang buộc về yêu cầu và nguồn vật chất đã định.
Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt đƣợc mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ. Dự án xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản v thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thế, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công đƣợc giải quyết. Theo Luật xây dựng 2014 thì khái niệm dự án đầu tƣ xây dựng công trình “Là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”.
Dự án đầu tƣ xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lƣợng những công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tƣ xây dựng bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. Những hoạt động hợp thành một dự án đầu tƣ về cơ bản bao gồm: việc nghiên cứu hoạch định các chính sách, các quy trình, các chuẩn mực; việc hoạch định các quy hoạch, chƣơng trình; việc thiết kế, chế tạo, mua sắm trang thiết bị; việc xây dựng, lắp đặt thiết bị; việc đổi mới tổ chức và phƣơng thức quản trị-điều hành; việc đào tạo nhân lực; việc chuyển giao công nghệ; khả năng huy động, hoàn vốn đầu tƣ.Qua đó cho thấy dự án đầu tƣ là hệ thống các hoạt động có cùng mục tiêu. Do vậy, đầu tƣ theo dự án thực chất là phƣơng pháp tiếp cận có hệ thống trong hoạt động đầu tƣ để đầu tƣ đạt mục tiêu và có hiệu quả.
-4- Để tiến hành đầu tƣ nhất thiết phải có dự án đầu tƣ. Cho nên, dự án đầu tƣ nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà đầu tƣ, nhà nƣớc và các bên hữu quan: là căn cứ quan trọng để quyết định việc bỏ vốn đầu tƣ, là phƣơng tiện để thuyết phục các tổ chức tài chính tài trợ - liên doanh bỏ vốn đầu tƣ, là cơ sở xây dựng kế hoạch đầu tƣ, theo dõi, đôn đốc quá trình thực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện dự án, là văn kiện chủ yếu để các cơ quan quản lý nhà nƣớc xem xét-phê duyệt-cấp giấy phép đầu tƣ, là căn cứ quan trọng để theo dõi - đánh giá và những điều chỉnh kịp thời những tồn tại. Dự án đầu tƣ xây dựng là một công việc mang tính chất một lần, có một lƣợng đầu tƣ nhất đinh, trải qua một loạt các trình tự. Dự án đầu tƣ xây dựng có những đặc trƣng cơ bản sau: - Đƣợc cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình thành phần có mối liên hệ nội tại chịu sự quản lý thống nhất trong quá trình đầu tƣ xây dựng.
- Hoàn thành công trình là một mục tiêu đặc biệt quan trọng trong điều kiện ràng buộc nhất định về thời gian, về nguồn lực, về chất lƣợng, về chi phí đầu tƣ và về hiệu quả đầu tƣ. - Phải tuân theo trình tự đầu tƣ xây dựng cần thiết từ lúc đƣa ra ý tƣởng đến khi công trình hoàn thành đƣa vào sử dụng. - Mọi công việc chỉ thực hiện một lần: Đầu tƣ một lần, địa điểm xây dựng cố định một lần, thiết kế và thi công đơn nhất. Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tƣợng quản lý để điều khiển đối tƣợng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý dự án đầu tƣ chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng quá trình đầu tƣ (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tƣ, thực hiện đầu tƣ và vận hành kết quả đầu tƣ cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tƣ tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp nhằm đạt đƣợc hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tƣ nói riêng. Hiện nay, công tác quản lý dự án đang ngày càng đƣợc chú ý và mang tính chuyên nghiệp hơn, nó tỷ lệ thuận với quy mô, chất lƣợng công trình và năng lực cũng nhƣ tham vọng của chính Chủ đầu tƣ. Kinh nghiệm đã cho thấy công trình có yêu cầu càng cao về chất lƣợng, hoặc đƣợc thiết kế xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế -5- … đ i hỏi một ban Quản lý dự án có năng lực thực sự, làm việc với cƣờng độ cao, chuyên nghiệp và hiệu quả. Những yêu cầu khách quan đó vừa là thách thức lại vừa là cơ hội cho các cá nhân và tổ chức tƣ vấn để học hỏi kinh nghiệm.
Các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng Đối với các dự án quan trọng quốc gia thì CĐT phải lập Báo cáo đầu tƣ trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trƣơng và cho phép đầu tƣ. Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt thì CĐT phải báo cáo Bộ quản lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tƣớng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trƣớc khi lập dự án đầu tƣ xây dựng công trình. Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu chƣa có trong quy hoạch xây dựng thì phải đƣợc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Dự án đầu tƣ xây dựng và quá trình đầu tƣ xây dựng của bất kỳ dự án nào cũng bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tƣ; Thực hiện đầu tƣ; Kết thúc xây dựng và đƣa công trình vào khai thác sử dụng.
Quá trình thực hiện dự án đầu tƣ có thể mô tả bằng sơ đồ sau: Lập báo cáo Lập dự án Thiết kế Đấu thầu Thi công Nghiệm thu đầu tƣ đầu tƣ ---------------------------------- Đối với dự án quan trọng quốc gia ---------------------------------- Lập báo cáo thiết kế kỹ thuật Chuẩn bị đầu tƣ Thực hiện dự án đầu tƣ Kết thúc dự án đầu tƣ Hình 1. Các giai đoạn của quá trình đầu tƣ xây dựng (Nguồn: Luật xây dựng số 50/2014/QH13, Nghị định số 42/2017/NĐ-CP, các Thông tư hướng dẫn) -6- 1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư Đối với các dự án quan trọng quốc gia theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội thì CĐT phải lập Báo cáo đầu tƣ trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trƣơng và cho phép đầu tƣ. Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt thì CĐT phải báo cáo Bộ quản lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tƣớng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trƣớc khi lập dự án đầu tƣ xây dựng công trình.
Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu chƣa có trong quy hoạch xây dựng thì phải đƣợc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư Sau khi báo cáo đầu tƣ đƣợc phê duyệt DAĐT đƣợc chuyển sang giai đoạn tiếp theo- giai đoạn thực hiện đầu tƣ. Vấn đề đầu tiên là lựa chọn đơn vị tƣ vấn, phải lựa chọn đƣợc những chuyên gia tƣ vấn, thiết kế giỏi trong các tổ chức tƣ vấn, thiết kế giàu kinh nghiệm, có năng lực thực thi việc nghiên cứu từ giai đoạn đầu, giai đoạn thiết kế đến giai đoạn quản lý giám sát xây dựng- đây là nhiệm vụ quan trọng và phức tạp. Trong khi lựa chọn đơn vị tƣ vấn, nhân tố quyết định là cơ quan tƣ vấn này phải có kinh nghiệm qua những dự án đã đƣợc họ thực hiện trƣớc đó.
Một phƣơng pháp thông thƣờng dùng để chọn là đ i hỏi các cơ quan tƣ vấn cung cấp các thông tin về kinh nghiệm, tổ chức sau đó xem xét lựa chọn rồi tiến tới đấu thầu. Sau khi lựa chọn đƣợc nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án đƣợc phê duyệt, nhà thầu thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình. Tuỳ theo quy mô, tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bƣớc, hai bƣớc hay ba bƣớc. Thiết kế một bƣớc là thiết kế bản v thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật.
Thiết kế hai bƣớc bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản v thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tƣ. Thiết kế ba bƣớc bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản v thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do ngƣời quyết định đầu tƣ quyết định. -7- Sau khi sản phẩm thiết kế đƣợc hình thành, CĐT tổ chức thẩm định hồ sơ TKKT-TDT và trình lên cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền (cụ thể là ngƣời có thẩm quyền ra quyết định đầu tƣ) phê duyệt. Trƣờng hợp CĐT không đủ năng lực thẩm định thì thuê các tổ chức, cá nhân tƣ vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra dự toán thiết kế công trình làm cơ sở cho việc phê duyệt.
Trên cơ sở kết quả thẩm định TKKT-DT ngƣời có thẩm quyền quyết định đầu tƣ s ra quyết định phê duyệt TKKT- DT.