Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRI THỨC TRUYỀN THỐNG VÀ BẢO HỘ TRI THỨC TRUYỀN THỐNG 1. Khái quát về tri thức truyền thống 1. Khái niệm cộng đồng bản địa Có thể nói, tri thức truyền thống là những yếu tố mang đậm bản sắc văn hóa và phản ánh trình độ phát triển của cộng đồng bản địa về một lĩnh vực khoa học nhất định. Ban đầu tri thức truyền thống được cộng đồng bản địa sinh ra nhằm mục đích phục vụ cho chính cộng đồng đó.
Lâu dần khi xã hội phát triển hơn và có cơ hội trao đổi giữa các cộng đồng với nhau, họ chia sẻ những tri thức truyền thống mà mình có để đem lại lợi ích cho chính cộng đồng của mình và các cộng đồng khác, tạo nên những giá trị bền vững và đóng góp lớn vào sự phát triển các cộng đồng bản địa. Nói cách khác, tri thức truyền thống đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc “bảo đảm sự tồn tại và phát triển của cộng đồng cư dân bản địa qua nhiều thế hệ” [2, tr. Cộng đồng bản địa – với tư cách là chủ thể sáng tạo của tri thức truyền thống, được định nghĩa là một nhóm đa dạng về văn hóa và/hoặc sắc tộc [74, tr. xi], có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ về mặt lịch sử với vùng lãnh thổ và tài nguyên nơi họ đang sinh sống [155].
Trải rộng khắp thế giới từ châu Á, châu Âu đến châu Mỹ và châu Úc, cộng đồng bản địa được xác định là hậu duệ của những người đã sinh sống lâu đời ở một quốc gia hay vùng lãnh thổ vào thời điểm có những người thuộc các nền văn hóa hay nguồn gốc dân tộc khác nhau đến sinh sống tại quốc gia, vùng lãnh thổ đó. Các cộng đồng bản địa hiện nay ở châu Mỹ (như người Lakota ở Hoa Kỳ, người Maya ở Guatemala hoặc người Aymara ở Bolivia), người Eskimo, Inuit và Aleutian ở vùng Bắc Cực, người Saami ở Bắc Âu, người dân đảo Úc và người Maori của New Zealand… vẫn gìn giữ những đặc điểm riêng biệt của cộng đồng mình so với đa số dân cư quốc gia, vùng lãnh thổ nơi họ sinh sống [121]. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới (World Bank), uớc tính có khoảng 476 triệu cộng đồng bản địa đang sinh sống trên toàn thế giới, chiếm 6% dân số toàn cầu, 16 chủ yếu thuộc nhóm nghèo hoặc rất nghèo. Cộng đồng bản địa thường được đề cập đến như một nhóm người đặc biệt sinh sống trong một điều kiện khắc nghiệt và bất lợi nghiêm trọng [81, tr.
4] so với đa phần dân cư của quốc gia và vùng lãnh thổ nơi cộng đồng bản địa sinh sống. Những điều kiện khắc nghiệt và tính bất lợi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại khiến cho mối liên kết của từng cá nhân đối với cộng đồng có nguy cơ tổn hại và đe dọa đến tính toàn vẹn của nền văn hóa mà cộng đồng bản địa đã gây dựng trong nhiều thế hệ [37, tr. Cụ thể, cộng đồng bản địa sinh sống trong các xã hội nhỏ, chủ yếu tại các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển. Những người này bị hạn chế tiếp cận với giáo dục chính quy; do đó, họ thường không nhận thức được giá trị của quyền SHTT đối với những tri thức mà họ tiếp thu và sở hữu.
Hệ quả là, cộng đồng bản địa dễ dàng và sẵn sàng chia sẻ những tri thức mà mình có ra bên ngoài, dẫn đến việc những cá nhân có hiểu biết hơn lợi dụng điều đó. Trường hợp này gây ra sự bất công rất lớn bởi những người sáng tạo và nắm giữ tri thức truyền thống thực sự lại không thu được bất kỳ lợi ích nào trong khi những kẻ khác lại có thể khai thác tự do và hưởng lợi từ tri thức truyền thống đó. Một mặt, những đối tượng sử dụng và khai thác tri thức truyền thống (mà không phải cộng đồng bản địa) có thể làm sai lệch, biến tướng và làm mất đi những giá trị cốt lõi ban đầu của tri thức truyền thống. Mặt khác, cộng đồng bản địa lại càng trở nên khó khăn và nghèo đói hơn khi họ vừa không được hưởng bất kỳ lợi ích nào, vừa bị hạn chế khai thác chính tri thức truyền thống mà mình sở hữu.
Trong nhiều thập kỷ qua, quyền của cộng đồng bản địa đã và đang được quốc tế quan tâm và công nhận thông qua một số văn kiện như Công ước về cộng đồng bản địa và các Bộ lạc (Indigenous and Tribal Peoples Convention) năm 1991, Tuyên bố của Liên hợp quốc về Quyền của cộng đồng bản địa (United Nations Declaration on the Rights of Indigenous Peoples - UNDRIP) năm 2007, Tuyên bố của Hoa Kỳ về Quyền của cộng đồng bản địa năm 2016 (the American Declaration on the Rights of Indigenous Peoples) và Thỏa thuận khu vực về tiếp cận thông tin, sự tham gia của cộng đồng và công lý trong các vấn đề môi trường ở Mỹ Latinh và Caribe (the Regional Agreement on Access to Information, Public Participation and Justice in 17 Environmental matters in Latin America and the Caribbean - Thỏa thuận Escazu) năm 2021,. Bên cạnh đó, các cơ chế thúc đẩy quyền của cộng đồng bản địa mang tính toàn cầu đã được thiết lập như Diễn đàn thường trực của Liên hợp quốc về các vấn đề bản địa (United Nations Permanent Forum on Indigenous Issues - UNPFII), Cơ chế chuyên gia về quyền của cộng đồng bản địa (Expert Mechanism on the Rights of Indigenous Peoples - EMRIP) và Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về quyền của cộng đồng bản địa (UN Special Rapporteur on the Rights of Indigenous Peoples - UNSR). Điều này một mặt đấu tranh cho quyền lợi mà cộng đồng bản địa xứng đáng có được từ tri thức truyền thống mà họ sở hữu, mặt khác cũng cho thấy tầm quan trọng của cộng đồng bản địa đối với việc duy trì và phát huy các giá trị mà tri thức truyền thống mang lại. Có thể nói, cộng đồng bản địa có mối quan hệ hữu cơ với tri thức truyền thống.
Để thể hiện mối quan hệ này, trong thông điệp nhân dịp kỷ niệm 10 năm ban hành UNDRIP, Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization – UNESCO) đã khẳng định các dân tộc bản địa đã duy trì nền văn hóa độc đáo cũng như sự liên kết tuyệt vời với môi trường thiên nhiên. Họ là hiện thân cho một “cái chảo” khổng lồ của sự đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa của nhân loại. Bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của cộng đồng bản địa là để bảo vệ các quyền của tất cả mọi người và tôn trọng giá trị tinh thần của nhân loại trong quá khứ lẫn tương lai [20]. Thông điệp của Tổng giám đốc UNESCO đã cho thấy tầm quan trọng của cộng đồng bản địa trong việc sáng tạo, duy trì và phát triển các giá trị truyền thống nói chung và tri thức truyền thống nói riêng.
Ngay trong lời tựa của UNDRIP, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nhấn mạnh những nội dung có liên quan đến cộng đồng bản địa và tri thức truyền thống như: (i) Khẳng định rằng tất cả các dân tộc đóng góp vào sự đa dạng và giàu có của những nền văn minh và văn hóa, tạo nên di sản chung của loài người; (ii) Công nhận nhu cầu cấp bách phải tôn trọng và phát huy các quyền mang tính kế thừa của các dân tộc bản địa xuất phát từ những thiết chế chính trị, kinh tế và xã hội của họ, và từ những truyền thống văn hóa, tinh thần, lịch sử và triết lý của họ, đặc biệt là từ 18 các quyền của họ đối với đất đai, lãnh thổ và tài nguyên; và (iii) Công nhận rằng tôn trọng tri thức bản địa, văn hóa và truyền thống sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững và bình đẳng cũng như quản lý môi trường hợp lý của cộng đồng bản địa. Như vậy, đây là một trong những nội dung cốt lõi liên quan đến việc tôn trọng, bảo tồn tri thức truyền thống và công nhận các quyền của cộng đồng bản địa trong việc sáng tạo và khai thác tri thức truyền thống. Trên cơ sở nghiên cứu khái quát về cộng đồng bản địa, có thể rút ra định nghĩa về cộng đồng bản địa như sau: “Cộng đồng bản địa là những người nắm giữ ngôn ngữ, hệ thống tri thức và tín ngưỡng độc đáo và sở hữu nhưng tri thức vô giá về thực tiễn quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên. Họ sử dụng và có mối quan hệ đặc biệt với vùng đất truyền thống mà họ sinh sống – nơi đóng vai trò quan trọng cơ bản đối với sự tồn tại về thể chất và văn hóa chung của họ với tư cách là các dân tộc.
Cộng đồng bản địa có quan niệm phát triển đa dạng mang bản sắc riêng dựa trên các giá trị, tầm nhìn, nhu cầu và ưu tiên truyền thống của họ” [135]. Có thể nói, cộng đồng bản địa và tri thức truyền thống có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Theo đó, cộng đồng bản địa sáng tạo và gìn giữ tri thức truyền thống, ngược lại, tri thức truyền thống cũng tồn tại và phát triển trong thế giới mà cộng đồng bản địa đã xây dựng nên. Khái niệm tri thức truyền thống 1.
Định nghĩa tri thức truyền thống Theo thời gian, các cộng đồng bản địa trên khắp thế giới đã sáng tạo và bảo tồn những hiểu biết đặc biệt về con người, sinh vật và đời sống xung quanh, bắt nguồn từ kinh nghiệm về văn hóa và các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, tạo thành một hệ thống tri thức rộng rãi gọi chung là tri thức truyền thống [92, tr. Tri thức truyền thống (Traditional Knowledge) là một khái niệm được tiếp cận từ khá sớm nhưng cho đến nay, khái niệm này vẫn đang được thảo luận và chưa được định nghĩa thống nhất. Trong nghiên cứu về tri thức truyền thống năm 1983 của WIPO, tri thức truyền thống được hiểu ở nghĩa khá hẹp là “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” (Expressions of Folklore) [130]. Đến những năm cuối cùng của thế kỷ XX, WIPO đã 19 mở rộng phạm vi của tri thức truyền thống, coi đây là “các sản phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học dựa trên truyền thống”.
Trong Khung pháp lý khu vực về bảo hộ tri thức truyền thống và thể hiện văn hóa truyền thống (Regional Framework for the Protection of Traditional Knowledge and Expression Culture), WIPO cũng từng đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về tri thức truyền thống.