phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về viên chức trong cac trƣờng đại học công lập; Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về viên chức trong các trƣờng đại học công lập ở Việt Nam; Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về viên chức trong các trƣờng đại học công lập ở Việt Nam. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.1 Viên chức, viên chức trong các trƣờng đại học công lập ở Việt Nam 1. Khái niệm viên chức Từ trƣớc đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm viên chức, theo Từ điển Tiếng Việt, viên chức là một từ Hán - Việt, theo nguyên nghĩa của từ này, thì viên là ngƣời giữ một chức vụ, chức là các việc về phần mình, viên chức là ngƣời giữ một chức nghiệp nhất định, thƣờng là trong bộ máy chính quyền. Trong đời sống hàng ngày, khái niệm hay thuật ngữ “ viên chức” có nghĩa rất rộng.
Viên – “thành viên” có nghĩa là ngƣời làm việc nói chung trong các cơ quan, các tổ chức; “chức” nghĩa là ngƣời làm việc có một chức vụ, chức danh nào đó. Vì vậy “viên chức” đƣợc hiểu là những ngƣời làm việc thông thƣờng và những ngƣời có chức vụ trong các cơ quan, tổ chức công hoặc tƣ, đƣợc hƣởng lƣơng theo ngạch, bậc, trình độ và chức vụ. Ở Việt Nam, khái niệm viên chức có sự thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử; trải qua các thời kỳ khác nhau, nội hàm của khái niệm viên chức cũng có sự thay đổi lớn. Trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh không có khái niệm “viên chức” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “công chức”: Công chức là “những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nƣớc đều là công chức theo qui chế này, trừ những trƣờng hợp riêng do Chính phủ qui định” [19, Điều 1] Sau đó, suốt một thời gian dài, khái niệm “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nƣớc” đƣợc dùng để chỉ những ngƣời phục vụ trong các tổ chức 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính trị, tổ chức chính trị xã hội, nhà nƣớc và một số tổ chức khác.
Hiến pháp năm 1992 quy định: “Các cơ quan nhà nƣớc, cán bộ, viên chức nhà nƣớc phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” (Điều 8). Nhƣ vậy, có thể thấy, trong đạo luật cơ bản của đất nƣớc, những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức của nhà nƣớc đƣợc gọi là cán bộ, viên chức. Tuy nhiên, từ Pháp lệnh cán bộ công chức 1998 và Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung 2003 và các văn bản hƣớng dẫn có thể thấy khái niệm viên chức dần đƣợc hình thành một cách rõ nét hơn, họ là những ngƣời làm việc trong các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, hoạt động của họ gắn với chuyên môn nghiệp vụ; khác với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nƣớc khác. Điều 2 của Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc xác định: “Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giữ một nhiệm vụ thƣờng xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật”.
Tháng 11/2008, Quốc hội ban hành Luật Cán bộ, công chức đã tách hẳn nhóm đối tƣợng viên chức ra khỏi phạm vi cán bộ, công chức, phân biệt giữa hoạt động công vụ của công chức với hoạt động có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức, nhằm hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển các đơn vị sự nghiệp, nâng cao chất lƣợng của đội ngũ viên chức, theo đó đã quy định: “Các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến những ngƣời làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập mà không phải là cán bộ, công chức quy định tại Luật này đƣợc tiếp tục thực hiện cho đến khi ban hành Luật Viên chức” [50, Điều 85]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, phải đến khi Luật Viên chức đƣợc ban hành (Luật số 58/2010/QH12) thì khái niệm viên chức mới đƣợc nêu một cách cụ thể: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [53, Điều 2]. Nhƣ vậy, Luật Viên chức đã làm rõ đƣợc khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức. Sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức, đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc và tiền lƣơng đƣợc hƣởng từ quỹ tiền lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập.
Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ, vì vậy, Luật Viên chức đã làm rõ: “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan” [53, Điều 4]. Nhƣ vậy, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đội ngũ viên chức mặc dù đƣợc gọi tên khác nhau trong nhiều loại văn bản khác nhau, nhƣng bản chất, đặc điểm của đội ngũ này không thay đổi. Họ vẫn luôn là lực lƣợng lao động trong những lĩnh vực hết sức thiết yếu của đời sống xã hội, cung cấp những dịch vụ công cơ bản, cần thiết cho ngƣời dân nhƣ giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội, hoạt động khoa học, văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao. Những hoạt động này không nhân danh quyền lực chính trị hoặc quyền lực công, không phải là các hoạt động quản lý nhà nƣớc mà chỉ thuần tuý mang tính nghề nghiệp gắn với nghiệp vụ, chuyên môn.
Và theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, viên chức đƣợc xác định theo các tiêu chí: đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc; hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Viên chức trong các trường đại học công lập 1.1 Khái niệm và phân loại viên chức trong các trường đại học công lập Trƣờng đại học công lập là trƣờng đại học do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc (trung ƣơng hoặc địa phƣơng) thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, khác với đại học dân lập hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng. Viên chức trong các trƣờng đại học công lập là công dân Việt Nam, đƣợc ký kết độ hợp đồng làm việc theo vị trí việc làm tại các trƣờng đại học công lập và hƣởng lƣơng từ nguồn thu của trƣờng đại học công lập đó.
Trong đơn vị sự nghiệp, viên chức đƣợc phân loại khác nhau. Nếu phân loại theo tiêu chí quản lý, lãnh đạo thì viên chức đƣợc chia thành: viên chức quản lý (ngƣời đƣợc bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhƣng không phải là công chức và đƣợc hƣởng phụ cấp chức vụ quản lý) và viên chức không giữ chức vụ quản lý (những ngƣời chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập). Nếu phân chia dựa trên sự phân công lao động và đặc tính lao động của viên chức, có thể phân loại thành viên chức lãnh đạo, quản lý; viên chức chuyên môn và viên chức thừa hành nghiệp vụ kỹ thuật. Nếu phân loại dựa trên tiêu chí hạng chức danh nghề nghiệp, sẽ có viên chức đƣợc phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp, gồm: viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I; viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng II, viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III và viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV.
Trong Luận văn này, học viên phân loại viên chức trong các trƣờng đại học công lập theo tiêu chí nhóm chức danh nghề nghiệp. Theo đó, viên chức trong các trƣờng đại học công lập 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao gồm đội ngũ viên chức giữ các chức danh khoa học và công nghệ, đội ngũ viên chức giảng dạy và những viên chức hành chính. Cụ thể: - Viên chức làm công tác giảng dạy: Những viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở các trƣờng đại học đƣợc gọi là giảng viên. Đội ngũ những ngƣời làm công tác giảng dạy bao gồm những chức danh nghề nghiệp sau: giảng viên cao cấp, giảng viên chính, giảng viên [8, Điều 2].
- Viên chức chuyên ngành khoa học khoa học và công nghệ: Những viên chức chuyên môn thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Đội ngũ này bao gồm các chức danh nghề nghiệp sau: Nghiên cứu viên cao cấp, Nghiên cứu viên chính, Nghiên cứu viên, Trợ lý nghiên cứu (Nhóm chức danh nghiên cứu khoa học); Kỹ sƣ cao cấp, Kỹ sƣ chính, Kỹ sƣ, Kỹ thuật viên (Nhóm chức danh công nghệ) [10] - Viên chức làm công tác hành chính (viên chức hành chính): Lực lƣợng lao động này tuy về ít hơn đội ngũ giảng viên về số lƣợng, nhƣng giữ vai trò không thể thiếu đối với sự phát triển giáo dục đại học. Tùy theo mô hình, quy mô, đặc điểm của từng trƣờng đại học, các phòng, ban, đơn vị trực thuộc đƣợc thành lập nhằm giúp việc cho Ban lãnh đạo và các hoạt động chung của nhà trƣờng.