Tổng quan nghiên cứu

Thị trường bán đấu giá tài sản tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc phân bổ nguồn lực kinh tế, xử lý nợ xấu và bảo vệ tài sản công của Nhà nước. Sự chuyển dịch từ Nghị định số 17/2010/NĐ-CP sang Luật Đấu giá tài sản năm 2016 cùng Nghị định số 62/2017/NĐ-CP đã thiết lập hành lang pháp lý thống nhất cho các hoạt động giao dịch dân sự. Tuy nhiên, theo các báo cáo thống kê ngành tư pháp trong giai đoạn 2017 - 2019, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo phát sinh từ hoạt động bán đấu giá tài sản ghi nhận mức tăng khoảng 15% đến 20% mỗi năm. Tình trạng này xuất hiện dày đặc tại 2 đô thị kinh tế lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung hơn 60% tổng khối lượng tài sản thi hành án và quyền sử dụng đất được đưa ra đấu giá trên cả nước.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài tập trung vào việc làm rõ những bất cập, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các kẽ hở trong trình tự thủ tục đấu giá tài sản. Mục tiêu cụ thể của luận văn là xây dựng hệ thống cơ sở lý luận toàn diện, đánh giá đúng thực trạng thi hành pháp luật của Thanh tra Bộ Tư pháp cùng các Sở Tư pháp trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2019, từ đó kiến nghị hệ thống giải pháp đồng bộ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 30% đến 40% các vụ việc khiếu kiện kéo dài, nâng cao tính minh bạch, hạn chế tối đa nguy cơ thất thoát tài sản nhà nước và tài sản của các bên tham gia giao dịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý hành chính nhà nước hiện đại và lý thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, học thuyết về quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 và các nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tạo nền tảng vững chắc cho việc phân tích. Khung nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm trung tâm bao gồm: thanh tra chuyên ngành tư pháp, khiếu nại hành chính trong đấu giá tài sản, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đấu giá và tính độc lập tương đối của cơ quan thanh tra. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được đối chiếu xuyên suốt bao gồm Luật Thanh tra năm 2010, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018 và Luật Đấu giá tài sản năm 2016.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết luận thanh tra, báo cáo tổng kết công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ Tư pháp và 2 Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ năm 2017 đến 2018. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ quá trình theo dõi, tổng hợp thực tế hoạt động của các trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và doanh nghiệp đấu giá chuyên nghiệp trên toàn quốc. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 120 hồ sơ vụ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo điển hình liên quan đến đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản thi hành án dân sự. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng ngẫu nhiên, đại diện cho các trung tâm đấu giá lớn tại 63 tỉnh thành nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính đại diện khoa học.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp với thống kê mô tả nhằm bóc tách chính xác những điểm nghẽn về mặt thể chế, chỉ ra sự không tương thích giữa các văn bản luật chuyên ngành và lượng hóa cụ thể các loại sai phạm trong 5 khâu cốt lõi của quy trình bán đấu giá tài sản.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về tổ chức bộ máy và nguồn lực thực thi, Thanh tra Bộ Tư pháp theo Quyết định số 285/QĐ-BTP ngày 13/2/2018 được tổ chức thành 5 phòng chức năng với quy mô được giao là 29 biên chế, nhưng trên thực tế chỉ duy trì 26 biên chế làm việc thường trực, gồm 5 Thanh tra viên chính, 18 Thanh tra viên và 3 Chuyên viên. Sự thiếu hụt nhân sự chuyên trách khiến công tác thanh tra định kỳ mới chỉ bao quát được khoảng 10% đến 15% tổng số tổ chức bán đấu giá tài sản đang hoạt động trên toàn quốc.

Thứ hai, các sai phạm nghiệp vụ phát hiện qua công tác thanh tra chiếm tỷ lệ rất cao. Hành vi thông đồng, dìm giá, tạo hiện tượng quân xanh quân đỏ làm sai lệch giá trị tài sản chiếm tới 45% tổng số vụ việc có đơn thư khiếu nại, tố cáo được thụ lý. Khoảng 30% số vụ vi phạm xuất phát từ việc vi phạm quy định về niêm yết, thông báo công khai giá khởi điểm, danh sách người tham gia và chiếm dụng trái phép tiền đặt trước của khách hàng.

Thứ ba, hiệu lực thi hành các kết luận thanh tra còn nhiều hạn chế. Trong giai đoạn 2017 - 2018, tỷ lệ kết quả bán đấu giá bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hoặc Tòa án tuyên hủy do vi phạm trình tự, thủ tục luật định chiếm khoảng 12% đến 15% tổng số các vụ việc thanh tra chuyên ngành. Mức xử phạt vi phạm hành chính hiện hành phổ biến ở khung từ 10 triệu đến 20 triệu đồng, chưa đủ sức răn đe đối với các gói tài sản đấu giá có giá trị hàng chục tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên nằm ở sự chồng chéo giữa quy định của Luật Thanh tra năm 2010 với Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Tiêu chuẩn bổ nhiệm đấu giá viên và điều kiện thành lập doanh nghiệp đấu giá tại Nghị định số 62/2017/NĐ-CP còn tương đối đơn giản, dẫn đến việc nhiều đơn vị quy mô manh mún cạnh tranh không lành mạnh bằng cách trích hoa hồng phí dịch vụ cho cơ quan có tài sản. So sánh với giai đoạn áp dụng Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, tính chất phức tạp của các tranh chấp tài sản thi hành án đã tăng hơn 35% do giá trị đất đai và tài sản công gia tăng mạnh mẽ.

Để tối ưu hóa công tác giám sát, các dữ liệu sai phạm này hoàn toàn có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột phân bố tỷ lệ vi phạm theo từng khâu nghiệp vụ và bảng thống kê rủi ro pháp lý định kỳ, giúp cơ quan quản lý nhà nước nhận diện sớm các nguy cơ trục lợi trong quá trình tổ chức đấu giá.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý chuyên ngành thông qua việc đề xuất Quốc hội và Chính phủ sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra, Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Cần quy định tăng mức xử phạt vi phạm hành chính gấp 2 đến 3 lần đối với các hành vi dìm giá, cản trở khách hàng tham gia đấu giá, hoàn thành việc sửa đổi khung pháp lý trước năm 2025. Chủ thể thực hiện là Bộ Tư pháp phối hợp với Thanh tra Chính phủ và Bộ Tài chính.

Thứ tư, chuẩn hóa và rút ngắn quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo bằng việc ban hành quy chế phối hợp liên ngành gồm 5 bước xử lý đơn thư giữa cơ quan Thanh tra và cơ quan Thi hành án dân sự. Mục tiêu hướng tới là giảm 25% thời gian xác minh đơn thư thực tế so với thời hạn quy định trong Luật Khiếu nại năm 2011, giao Thanh tra Bộ Tư pháp và Thanh tra các Sở Tư pháp chủ trì thực hiện từ giai đoạn 2021 - 2023.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong hoạt động đấu giá. Xây dựng cổng thông tin đấu giá trực tuyến quốc gia liên thông dữ liệu thanh tra tại 63 tỉnh, thành phố nhằm minh bạch hóa 100% hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản công trong lộ trình từ năm 2020 đến năm 2024. Cục Bổ trợ tư pháp phối hợp với Cục Công nghệ thông tin trực tiếp điều phối.

Thứ tư, củng cố nguồn nhân lực và tính độc lập của cơ quan thanh tra. Đảm bảo kiện toàn 100% định mức biên chế được giao (đạt tối thiểu 30 đến 35 nhân sự chuyên trách cho Thanh tra Bộ Tư pháp), đồng thời tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng giám sát hiện đại hàng năm cho hơn 500 lượt thanh tra viên và đấu giá viên trên cả nước trong giai đoạn 2020 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước gồm Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp và 63 Sở Tư pháp trên cả nước: Sử dụng 8 tiêu chí hoàn thiện pháp luật được xây dựng trong luận văn làm tài liệu tham khảo trực tiếp để rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật trong định hướng chiến lược đến năm 2030.

Nhóm các tổ chức đấu giá tài sản và hơn 1.200 đấu giá viên đang hành nghề: Nghiên cứu 5 nhóm sai phạm nghiệp vụ thường gặp được phân tích trong luận văn nhằm chủ động chuẩn hóa quy trình tiếp nhận hồ sơ, thu tiền đặt trước và phòng ngừa 100% rủi ro bị xử phạt hành chính hoặc hủy kết quả đấu giá.

Nhóm các cơ sở đào tạo, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Luật học: Khai thác bộ khung lý luận về tính độc lập của cơ quan thanh tra cùng nguồn dữ liệu thực chứng giai đoạn 2017 - 2018 để phát triển các công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật hành chính và dân sự.

Nhóm người có tài sản đấu giá, cơ quan thi hành án và khách hàng tham gia đấu giá: Vận dụng các căn cứ pháp lý của Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2018 được luận văn hệ thống hóa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi phát hiện dấu hiệu thông đồng, dìm giá tài sản.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của việc hoàn thiện pháp luật thanh tra trong đấu giá tài sản là gì? Mục tiêu chính là xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, nâng cao tính minh bạch, hạn chế từ 30% đến 40% các vụ khiếu kiện kéo dài và bảo đảm lợi ích của Nhà nước cùng quyền lợi của các bên liên quan.

Những sai phạm phổ biến nhất được phát hiện qua công tác thanh tra đấu giá tài sản là gì? Sai phạm phổ biến nhất gồm thông đồng, dìm giá tài sản chiếm 45% tổng số vụ việc khiếu kiện, vi phạm quy định về niêm yết thông báo chiếm 30% và hiện tượng chiếm dụng tiền đặt trước của người tham gia.

Cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ Tư pháp trong lĩnh vực này được quy định như thế nào? Theo Quyết định số 285/QĐ-BTP ngày 13/2/2018, Thanh tra Bộ Tư pháp gồm 5 phòng chuyên môn, 1 Chánh thanh tra và không quá 3 Phó Chánh thanh tra, quản lý 26 biên chế thực tế trên 29 chỉ tiêu được giao.

Vì sao cần ứng dụng công nghệ 4.0 và đấu giá trực tuyến vào thực tiễn? Hình thức đấu giá trực tuyến giúp triệt tiêu hoàn toàn sự can thiệp trực tiếp của quân xanh quân đỏ, công khai thông tin cho khách hàng tại 63 tỉnh thành và giảm thiểu hơn 50% nguy cơ phát sinh khiếu nại tiêu cực.

Hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật trong luận văn gồm những gì? Luận văn đề xuất 8 tiêu chí cốt lõi, nổi bật là tính toàn diện, tính thống nhất đồng bộ, tính khả thi thực tế, tính minh bạch công khai và mức độ tương thích với các cam kết điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thanh tra chuyên ngành, xác lập 8 tiêu chí đánh giá tính hoàn thiện của pháp luật thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản.
  • Phản ánh trung thực thực trạng tổ chức bộ máy Thanh tra Bộ Tư pháp với 26 nhân sự thực tế trên 29 biên chế được giao, chỉ rõ sự quá tải trong công tác giám sát các tổ chức đấu giá.
  • Nhận diện chính xác 3 nhóm vi phạm điển hình, đặc biệt là tình trạng thông đồng dìm giá chiếm tới 45% các vụ việc khiếu nại trong giai đoạn 2017 - 2018.
  • Hoạch định hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tích hợp lộ trình chuyển đổi số và nâng mức chế tài xử phạt hành chính gấp 2 đến 3 lần trong giai đoạn 2020 - 2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc sửa đổi, bổ sung đồng bộ Luật Thanh tra năm 2010, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu pháp lý và cơ quan quản lý hãy áp dụng ngay những giải pháp từ công trình này để nâng cao hiệu lực thanh tra và xây dựng thị trường đấu giá tài sản minh bạch, chuyên nghiệp.