CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU 1. Khái niệm quyền sở hữu Từ khi của cải vật chất trở lên dư thừa những người giàu có chiếm phần lớn tài sản trong xã hội vì vậy mà các quan hệ sở hữu tồn tại như một một yếu tố khách quan, phong tục tập quán được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Những người giàu có và quyền thế nhận thấy rằng việc điều hành xã hội bằng phong tục tập quán sẽ không có lợi cho họ. Những người trong giai cấp giàu có và có quyền thế nhận thầy rằng phong tục tập quán không đủ để bảo vệ quyền lợi cho họ đối với việc họ sở hữu những tư liệu sản xuất.
Vì vậy mà giai cấp thống trị đã phải đặt ra một cái gì đó khác với tập quan và chỉ giữ lại những gì của tập quán có lợi cho mình. Để bảo đảm cho sự thống trị về chính trị và tư tưởng chính những người giàu có và giai cấp thống trị đã thiết lập các quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị phải dùng tới một bộ phận của pháp luật về sở hữu để thể hiện ý chí giai cấp của mình. Pháp luật về sở hữu ghi nhận và củng cố địa vị, ghi nhận lợi ích của giai cấp thống trị đối với việc đoạt giữ các của cải vật chất trước các giai cấp khác trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông.
Do đó, trong bất kỳ nhà nước nào, luật pháp về sở hữu cũng được sử dụng với ý nghĩa là một công cụ có hiệu quả của giai cấp nắm chính quyền để bảo vệ cơ sở kinh tế của giai cấp đó. Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội. Các quy phạm pháp luật về sở hữu xác nhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Theo nghĩa rộng, quyền sở hữu có thể hiểu là luật pháp về sở hữu trong một hệ thống pháp luật nhất định.
Vì vậy, quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005). Theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định. Theo nghĩa này, có thể nói quyền sở hữu chính là 5 những quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với một tải sản cụ thể, được xuất hiện trên cơ sở nội dung của quy phạm pháp luật về sở hữu1. Ngoài ra, theo một phương diện khác, quyền sở hữu còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự - quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu.
Vì rằng bản thân nó chính là hệ quả của sự tác động của một bộ phận pháp luật vào các quan hệ xã hội (các quan hệ sở hữu). Vì vậy, theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đầy đủ ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể, nội dung như mọi quan hệ pháp luật dân sự bất kỳ2. Phân loại hình thức sở hữu Do có sự tác động khác nhau đến quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và các quy chế pháp lý của các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với mỗi hình thức sở hữu cũng có những nét riêng nên việc phân biệt các hình thức sở hữu khác nhau trong pháp luật dân sự là cần thiết và hợp lý. Với việc quy định các hình thức sở hữu cụ thể, chúng ta sẽ có điều kiện quy định các phương thức tồn tại, vận động của sở hữu gắn liền với các chủ sở hữu cụ thể cùng với các chế độ pháp lý có tính đặc thù của từng hình thức sở hữu đó.
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định 6 hình thức sở hữu là: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Sở hữu nhà nước a. Khái niệm Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Nxb. Công an nhân dân, H. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Nxb. 2 Công an nhân dân, H.
6 Theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước là người đại diện cho toàn dân, được nhân dân trao cho những quyền lực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, ngoại giao. để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả là: xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ những tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai, tài nguyên trên mặt biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc thềm lục địa Việt Nam. cùng với những tài sản khác theo quy định của pháp luật đều thuộc quyền quản lý, khai thác và sử dụng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người đại diện cho nhân dân quản lý, nắm giữ những tư liệu sản xuất, là chủ sở hữu đối với tài sản được quy định tại Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu sử dụng và định đoạt đối với các tài sản đó. Điều 201 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm tài sản thuộc sở hữu nhà nước”.
Sở hữu toàn dân quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 được hiểu là một phạm trù pháp lý, do vậy tài sản của toàn dân phải có chủ sở hữu đích thực để thực hiện quyền sở hữu trong việc phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nước. Để sử dụng tài sản của nhân dân có hiệu quả cần phải trao quyền cho Nhà nước, cho người có thẩm quyền định đoạt tài sản của nhân dân theo quy định của pháp luật, do vậy trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 200 quy định Nhà nước là chủ sở hữu đối với chế độ sở hữu toàn dân. Quyền sở hữu nhà nước, hiểu theo nghĩa khách quan (hay theo nghĩa rộng) là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm: - Xác nhận việc chiếm hữu của Nhà nước (gồm cả chiếm hữu pháp lý và chiếm hữu thực tế) đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng nhất; - Quy định về nội dung và trình tự thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của Nhà nước; - Xác định phạm vi, quyền hạn của cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp do Nhà nước thành lập trong việc quản lý nghiệp vụ những tài sản do Nhà nước giao 7 theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh, quản lý hoặc hoạt động công ích3. Nhà nước giao cho các doanh nghiệp nhà nước vốn, tư liệu sản xuất để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh hoặc hoạt động công ích do Nhà nước giao.
Các doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự. có quyền quản lí, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác. Có quyền chuyển nhượng cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản được quyền quản lí, trừ những thiết bị, nhà xưởng quan trọng theo quy định của chính phủ phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn (Điều 203 Bộ luật Dân sự năm 2005). Như vậy, Nhà nước giao tài sản cho các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời cho phép doanh nghiệp được thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản đó trong một phạm vi theo quy định của pháp luật.
Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của các cơ quan, doanh nghiệp của Nhà nước được gọi là “quyền sở hữu hạn chế”. Nhà nước thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu theo quy định tại Điều 204 Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo nghĩa chủ quan (hay nghĩa hẹp) quyền sở hữu toàn dân được hiểu là toàn bộ những hành vi mà với tư cách đại diện cho chủ sở hữu, Nhà nước cũng như các chủ sở hữu khác thực hiện các quyền năng cụ thể về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với các tài sản của mình. Nhà nước “là chủ” đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng không ai quy định cho Nhà nước phạm vi từng quyền hạn đối với những tư liệu sản xuất đó.
Nhà nước tự quy định cho mình quyền năng và các trình tự để thực hiện các quyền năng nhưng điều đó không có nghĩa là quyền hạn của Nhà nước là vô tận đối với các tài sản mà Nhà nước là chủ sở hữu. Cũng như các chủ thể khác, Nhà nước chỉ được thực hiện quyền của chủ sở hữu trong phạm vi pháp luật cho phép. Nói cách khác, các quyền năng đó cũng được thực hiện theo quy định của pháp luật4.