Chương 1. Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực du lịch Chương 2. Thực trạng pháp luật trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam hiện nay Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam hiện nay 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 1.1 DU LỊCH, BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA DU LỊCH 1.1 Khái niệm, bản chất du lịch Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến.
Du lịch từ lâu đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu. Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống và thuật ngữ “Du lịch” đã trở nên rất thông dụng. Thuật ngữ “Du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành “tornus” và sau đó thành “tourisme” (Tiếng Pháp) và “tourism” (Tiếng Anh).[38] Ở Việt Nam, thuật ngữ “Du lịch” được dịch thông qua tiếng Hán.
“Du” có nghĩa là chơi, “Lịch” có nghĩa là từng trải. Tuy nhiên người Trung Quốc lại gọi là “Du lãm” với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức. Ngày nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch. Như một chuyên gia nghiên cứu về du lịch đã nhận định, đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả thì có bấy nhiêu định nghĩa.
Khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau; giữa những nhà nghiên cứu khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau.Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đưa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp những hiện tượng, mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến. Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc họp về du lịch ở Roma năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Dưới con mắt của Guer Freuler trong cuốn nhập môn khoa học du lịch: Du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại của chúng ta dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên.
Theo nhà kinh tế Kalíiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thoa mãn nhu cấu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế. Theo quan điếm của Robert W.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch. Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch bao gồm: khách du lịch; các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch; chính quyền sở tại; cộng đồng dân cư địa phương. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới: “Du lịch là một hiện tượng văn hóa, xã hội và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của con người đến những quốc gia hay những địa điểm khác bên ngoài khu vực sinh sống thường ngày của họ vì mục tiêu cá nhân hoặc mục tiêu công việc/nghề nghiệp.
Những người này được gọi là khách viếng thăm (có thể là khách du lịch hoặc khách thăm quan, người cư trú hoặc không cư trú) và du lịch liên quan đến những hoạt động của họ, một trong số đó đòi hỏi có chi tiêu du lịch”.[46, tr 25] Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh: Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch. Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ.
Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế.[27, tr 156] Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI năm 2005) giải thích khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử. Không mang mục đích về kinh tế vì có thể thăm dò để làm kinh tế về sau. Vậy du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người, ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu giải trí trong một khoảng thời gian nhất định và không mang mục đích kinh tế.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Vai trò của du lịch Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc và có tính chất liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao. Phát triển du lịch liên quan và phụ thuộc vào tất cả các ngành, lĩnh vực đời sống xã hội. Du lịch chỉ có thể phát triển trên nền tảng văn hóa mà ở đó mọi mặt đời sống xã hội đã cơ bản hội đủ các điều kiện cần thiết về sức hấp dẫn của tài nguyên và mức độ thuận lợi, tiện nghi của dịch vụ do các ngành liên quan cung cấp. Ngược lại, du lịch phát triển sẽ kích thích nhu cầu và là đòn bẩy, động lực thúc đẩy các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội khác phát triển.
Có thể nói, du lịch ngày càng có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường. Vai trò kinh tế Được coi là “ngành kinh tế mũi nhọn” [23], vai trò của du lịch thể hiện trước hết ở phương diện kinh tế. Du lịch phát triển sẽ góp phần đẩy mạnh sự dịch chuyển cơ cấu ngành kin tế, cơ cấu lao động, cơ cấu về mặt lãnh thổ. Như vậy, du lịch được coi là cơ sở quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, và đây cũng chính là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều nước.
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp mà sản phẩm của nó dựa trên và bao hàm các sản phẩm có chất lượng của nhiều ngành kinh tế khác như ngành giao thông vận tải (đặc biệt là vận tải hành khách); ngành thương mại( kinh doanh ăn uống); bưu chính viễn thông; ngành bảo tồn di sản thiên nhiên, di sản văn hóa, sáng tạo sản phẩm du lịch (thủ công truyền thống); tài chính – ngân hàng, xây dựng… Ngành dịch vụ du lịch kéo theo hàng loạt các ngành khác phát triển, tăng thu nhập cho quốc gia, cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Nói cách khác, du lịch là ngành kinh tế dịch vụ có tính lan tỏa cao. Vai trò xã hội Du lịch góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, giảm bớt nạn thất nghiệp, nâng cao mức sống và làm cho đời sống tinh thần của con người trở lên phong phú, giảm bớt tệ nạn xã hội. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Du lịch có vai trò trong việc giữ gìn, bảo vệ, phục hồi sức khỏe cho nhân dân, trong một chừng mực nào đó nó còn có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng khả năng lao động cho con người.
Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định rằng nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của cư dân trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh đường tiêu hóa giảm 20%, bệnh thần kinh giảm 30%. Một số khu vực điều dưỡng khẳng định, nước khoáng ở đó có thể chữa được các vết loét, u nhọt… Thông qua hoạt động du lịch, người dân và khách du lịch hiểu thêm về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các danh lam thắng cảnh của đất nước… từ đó góp phần giáo dục tinh thần dân tộc, khơi dậy lòng tự hào dân tộc trong mỗi người. Cũng thông qua du lịch, người dân ở những địa phương, vùng miền, quốc gia khác nhau được giao lưu, tiếp xúc với nhau, tăng cường đoàn kết dân tộc. Đồng thời có sự trao đổi, học hỏi lẫn nhau giữa du khách với cư dân địa phương, góp phần nâng cao dân trí cũng như vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống của cả người dân bản địa lẫn khách du lịch.
Phát triển du lịch cũng góp phần vào việc khôi phục, phát triển văn hóa dân tộc. Nhu cầu nâng cao nhận thức văn hóa trong chuyến đi của du khách đã thúc đẩy các nhà cung ứng chú ý đến việc khôi phục và duy trì các di tích, các lễ hội văn hóa, các làng nghề thủ công truyền thống. Vai trò chính trị Du lịch góp phần củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế và mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc.