CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về môi trường kinh doanh 1. Những nghiên cứu về các yếu tố của môi trường kinh doanh Ngày nay, các doanh nghiệp (DN) đang phải đối mặt với sự phức tạp trong Môi trường Kinh doanh (MTKD) (Washington và cộng sự, 2016). MTKD là sự kết hợp của các lực lượng, các yếu tố tình huống và các tác nhân, có thể được đặc trưng bởi các tiêu chí khác nhau trong đó hoạt động kinh doanh được thực hiện và là cơ sở để thành lập và phát triển hoạt động kinh doanh (Sardak S.
MTKD có tính năng động cao, thông tin không chắc chắn và không thể đoán trước các sự kiện và kết quả hoạt động của họ, đòi hỏi phải xem xét lại các cách tiếp cận truyền thống để hình thành các chiến lược và quản lý cạnh tranh trong không gian kinh tế toàn cầu hình thành và ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. Do đó, việc xác định MTKD là một vấn đề phức tạp và quan trọng (Sardak S. MTKD của hầu hết các nước đang phát triển thường được đặc trưng bởi sự không chắc chắn của thị trường và nhu cầu, tỷ lệ lạm phát cao, cơ sở hạ tầng vật chất kém như mạng lưới đường bộ ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành, các chính sách và quy định công kém. Tương tự, người ta lập luận rằng bản chất và điều kiện của MTKD có thể có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của một ngành nhất định (Abimbola & Agboola, 2011; Wong và cộng sự 2014; Yu & Ramanathan, 2012).
Haruna Muhammad Khalid và cộng sự. (2018) lập luận rằng MTKD nên là điểm khởi đầu của bất kỳ nghiên cứu nào về tổ chức, bởi vì bản chất, điều kiện và hoàn cảnh của bất kỳ tổ chức nào đều phụ thuộc vào môi trường của nó. MTKD là tất cả những gì liên quan đến doanh nghiệp và đó là tất cả những gì vượt ra ngoài ranh giới ngành hoặc giới hạn của tổ chức, môi trường được đặc trưng bởi sự cạnh tranh khốc liệt, cường độ kinh tế, thay đổi công nghệ, trao đổi thông tin, sự không chắc chắn về chính sách của chính phủ và các yếu tố khác. những yếu tố có thể đe dọa tương lai của công ty.
Điều đặc trưng cho môi trường bên ngoài là các tổ chức không kiểm soát được nó (Daniel Nascimento-e-Silva và cộng sự, 2019). Theo Jauch và Glueck (1988), môi trường kinh doanh có các tầng mức khác nhau: môi trường kinh doanh nội tại và môi trường kinh doanh bên ngoài. Tầng mức môi trường nội tại bao gồm một số yếu tố bên trong mà doanh nghiệp có thể kiểm soát 13 được như vốn, lao động, thông tin, ý tưởng, đất đai, thiết bị, và quyết định sản lượng. Tầng mức môi trường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng và bao quát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục, thương mại, công nghiệp, …), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đến quốc gia).
Boddewyn và Brewer (1994) cho rằng môi trường kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào thể chế kinh tế của các quốc gia. Với đặc thù thể chế khác nhau là điều kiện hình thành nên những đặc trưng môi trường kinh doanh khác nhau. Ba cấu thành quan trọng của hệ thống thể chế gồm có thể chế chính thức (thành văn, như luật lệ), thể chế phi chính thức (bất thành văn, như tục lệ và các quy tắc xử thế), và các cơ chế và biện pháp chế tài. Có nhiều bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp trong các nền kinh tế khác nhau, sẽ phản ứng khác nhau với cùng một loại thách thức (Knetter, 1989).
Xã hội, kinh tế, chính trị và các yếu tố cấu thành một cơ cấu thể chế trong một môi trường cụ thể có thể tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệp khi tham gia vào các hoạt động cụ thể ở đó. Các doanh nghiệp có xu hướng thực hiện hiệu quả hơn nếu họ nhận được sự hỗ trợ về thể chế từ nhà nước. Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp. Mở rộng thêm khái niệm của Robin Wood (2000), một số tác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu tố xã hội, công nghệ, kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic, Environmental, Political) hoặc văn hóa-xã hội, chính trị-luật pháp, kinh tế, điều kiện tự nhiên và công nghệ (SPENT: 14 Sociocultural, Political-legal, Economic, Natural, Technological)… (Campbell và các đồng nghiệp (2002) và Cartwright (2002)).
Nghiên cứu GEM (Amoros &Bosma, 2014) tiếp cận MTKD dưới góc độ là kết quả của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đặc điểm của doanh nhân. Theo đó, GEM nghiên cứu tác động của thể chế đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa phát triển kinh doanh của doanh nghiệp với sự phát triển kinh tế của một vùng, một quốc gia. Từ đó có thể so sánh mức độ phát triển của quốc gia này với quốc gia khác hoặc trong khu vực và trên thế giới. Theo Porter (2008), môi trường kinh doanh là điều kiện bên ngoài giúp doanh nghiệp đạt được mức năng suất và trình độ đổi mới, sáng tạo cao nhất.
chất lượng của môi trường kinh doanh thường được đánh giá qua bốn đặc tính tổng quát bao gồm: (i) các điều kiện về nhân tố đầu vào, (ii) các điều kiện cầu, (iii) các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, và (iv) chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa. Thông qua các yếu tố này, các quốc gia và các địa phương có thể đánh giá được môi trường kinh doanh vi mô của họ có lành mạnh hay không (Porter 2008). Theo Word Bank (2005) thì MTKD được định nghĩa là tập hợp các yếu tố đặc trưng nhằm tạo ra các cơ hội và các khuyến khích để cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu tư, mở rộng quy mô doanh nghiệp và tăng trưởng. Các thành tố của MTKD bao gồm: môi trường thể chế chính thức, thể chế phi chính thức (mạng lưới doanh nghiệp), môi trường cơ sở hạ tầng, môi trường ngành.1: Các biến đo lường thể chế chính thức Khía cạnh của thể chế Biến đo lường chính thức Quyền sở hữu tài sản Tham nhũng hoặc chi phí giao dịch không chính thức Thực thi hợp đồng Số ngày và số quy trình thủ tục chính thức để giải quyết tranh chấp Nguồn: Kaufmann và cộng sự (2005) và Djankov và cộng sự (2002).
Theo Kaufmann và cộng sự (2005) thì biến đại diện phổ biến thường dùng để đo lường quyền sở hữu là biến “tham nhũng” hay biến “chi phí giao dịch không chính thức”. Hai là, “thể chế về thực thi hợp đồng” liên quan đến vai trò của hệ thống luật pháp trong việc giải quyết những tranh chấp hợp đồng. Đối với thể chế về thực thi hợp 15 đồng thì biến đại diện là số ngày và số quy trình thủ tục chính thức để giải quyết tranh chấp được giữa các bên trong hợp đồng được giới thiệu đầu tiên bởi Djankov và cộng sự (2002). Thể chế phi chính thức được đề cập đó chính là mạng lưới doanh nghiệp.
Theo Johanson và Mattso (1987), mạng lưới doanh nghiệp xem như là danh sách các mối quan hệ phức tạp giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác nhau. Theo Wit (2004), mạng lưới doanh nghiệp được đo lường dựa trên ba mức độ bao gồm cấu trúc mạng lưới, các hoạt động mạng lưới và lợi ích nhận được từ mạng lưới.2: Các biến đo lường mạng lưới theo ba cấp độ Mức độ Đo lường Cấu trúc của mạng lưới hiện tại Số lượng các đối tác mạng lưới Mức độ đa dạng của mạng lưới Mật độ của mạng lưới Các hoạt động xây dựng và duy trì Thời gian dành cho mạng lưới mạng lưới Tuần suất giao tiếp với các đối tác mạng lưới thực tế và tiềm năng Thông tin và dịch vụ nhận được từ Số lượng thông tin được cung cấp các đối tác mạng lưới hay chất lượng Mức độ hỗ trợ từ các đối tác mạng lưới mạng lưới Nguồn: Wit (2004) Theo Hallberg (2006), cơ sở hạ tầng được định nghĩa bao gồm cơ sở hạ tầng cứng (hệ thống đường xá, sân bay, cảng biển, điện nước) và cơ sở hạ tầng mềm (điện thoại, web, email, tiếp cận tín dụng). Cơ sở hạ tầng cứng được xem như là yếu tố bổ sung cho các đầu vào sản xuất khác và khuyến khích năng suất của doanh nghiệp bằng việc gia tăng tỷ lệ lợi nhuận của việc đầu tư. Cơ sở hạ tầng mềm (tiếp cận tín dụng) có liên quan đến khả năng doanh nghiệp tài trợ cho các dự án đầu tư.
Hệ thống tài chính phát triển sẽ tạo ra nhiều cơ hội đầu tư và phân bổ nguồn lực đến những dự án tạo ra lợi nhuận (Levin, 2005). Đối với môi trường ngành, theo lý thuyết cạnh tranh (Porter, 1988) thì cạnh tranh là động lực giúp doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới và hoạt động hiệu quả hơn. Thị trường cạnh tranh rộng lớn hơn sẽ giúp các doanh nghiệp có động cơ cắt giảm những yếu tố nội bộ không hiệu quả để tăng năng suất. 16 Ngoài ra, còn có những nghiên cứu về các yếu tố của MTKD đóng vai trò nhân tố thúc đẩy hoặc kìm chế hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp và ngược lại.
Ví dụ như nghiên cứu của Dollar và cộng sự (2005), Lu và cộng sự (2006), Galan và cộng sự (2007). Theo David Dollar và cộng sự (2005), đối với các DN, vai trò của Chính phủ đối với việc thay đổi khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng, tiếp cận các thị trường quốc tế và tài chính là quan trọng hơn các vấn đề quản trị và tham nhũng. Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về quản trị và tham nhũng tạo ra sự khác biệt giữa các địa điểm trong nước. Lu và cộng sự (2006) cho rằng, các yếu tố chính trị, hạ tầng, chi phí tiếp cận đất đai, lao động, ưu đãi về thuế, tăng trưởng kinh tế cũng đều ảnh hưởng hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong khi Jose Galan và cộng sự (2007) thì nhấn mạnh thêm yếu tố văn hóa xã hội như: tiêu chuẩn sinh hoạt, dịch vụ cộng đồng, thái độ của cộng đồng đối với doanh nghiệp, sự tương đồng về văn hóa có ý nghĩa quan trọng khi các doanh nghiệp đa quốc gia đầu tư vào các nước Mỹ La tinh.