Chương 1 Qua việc tìm hiểu tổng quan các nghiên cứu cho thấy, đã có các nghiên cứu về kiểm toán NSNN nói chung và kiểm toán NSĐP nói riêng. Các nghiên cứu đưa ra đánh giá thực trạng về kiểm toán NSNN, NSĐP Việt Nam ở các khía cạnh khác nhau như vấn đề về tổ chức bao gồm tổ chức công tác kiểm toán và tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước hoặc giới hạn phạm vi ngân sách xã, phường, thị trấn,… từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm toán ngân sách. Việc tổng quan các nghiên cứu này sẽ là tiền đề quan trọng trong việc xác định khoảng trống nghiên cứu, nghiên cứu lý luận trong Chương 2, nghiên cứu điều tra thực nghiệm trong Chương 3 để xác định các nhân tố ảnh hưởng tới công tác kiểm toán NSĐP làm định hướng hoàn thiện công tác kiểm toán NSĐP góp phần tăng cường quản lý ngân sách của các địa phương. 15 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG 2.
Lý luận chung về ngân sách địa phương và quản lý ngân sách địa phương 2. Bản chất của ngân sách địa phương Từ “ngân sách” được xuất phát từ thuật ngữ “budget”, một từ tiếng Anh thời trung cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng. Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho những mục đích công cộng như: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau. Trong đời sống kinh tế, thuật ngữ ngân sách đã thoát ly ý nghĩa ban đầu và mang nội dung hoàn toàn mới.
Từ điển Oxford advanced learn’s Dictionary của Nhà xuất bản Đại học Oxford của Anh thì giải thích: ngân sách là khoản tiền để cho tổ chức hoặc cá nhân sử dụng với kế hoạch chi tiêu trong một khoảng thời gian nhất định [37, tr. Từ điển Thuật ngữ tài chính tín dụng giải thích: ngân sách được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (tiền thu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia đình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) [1, tr. Bất kỳ ngân sách nào cũng là một dự báo của các hoạt động. Các cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan hành chính địa phương và đặc biệt là nhà nước đều tiến hành lập các chương trình tài chính dưới dạng dự báo về hoạt động thu và chi của mình.
Khi giai cấp tư sản lớn mạnh và từng bước khống chế nghị viện và đòi hòi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó hình thành khái niệm NSNN [5, tr.77] NSNN là một phạm trù mang tính lịch sử gắn liền với sự ra đời của nhà nước. Nhà nước ra đời tất yếu phải có nguồn lực tài chính để trang trải cho các chi phí hoạt động của bộ máy và thực hiện chức năng kinh tế xã hội của nhà nước, NSNN là nguồn lực tài chính chủ yếu, cơ bản nhất của nhà nước. Như vậy, sự hình thành của NSNN chịu sự quyết định của sự tồn tại và việc thực hiện các chức năng của nhà nước. Xã hội đã trải qua những phương thức sản xuất và chế độ chính trị khác nhau đã đặt ra yêu cầu ngày càng cao về vai trò của nhà nước trong quản lý nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Thực tế lịch sử đã khẳng định, để đáp ứng yêu cầu đó, mỗi nhà nước cũng không ngừng phát triển cả về tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý nền kinh tế - xã hội. Sự phát triển của nhà nước đến một giai đoạn nhất định sẽ dẫn đến sự điều chỉnh từ tập trung thống nhất trong quản lý dần sang phân cấp quyền lực trong quản lý xã hội để 16 đảm bảo yêu cầu của thực tiễn, dẫn đến sự hình thành nhà nước trung ương và các bộ phận nhà nước cấp dưới của nhà nước trung ương, đó là các cấp chính quyền địa phương. Để mỗi cấp chính quyền cấp dưới thực hiện được những nhiệm vụ của cấp mình, nhà nước dựa trên phân cấp về quản lý hành chính và phân cấp về quản lý kinh tế để tiến hành phân cấp quản lý NSNN, từ đó hình thành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương. Như vậy, NSĐP là tên chung để chỉ ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới (cấp dưới của chính quyền nhà nước trung ương) phù hợp với địa giới hành chính các cấp.
Quản lý ngân sách địa phương 2. Quản lý thu, chi ngân sách địa phương Thứ nhất, Quản lý quá trình thu của NSĐP Thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước [5, tr. Thu NSNN bao gồm rất nhiều loại, ngoài các khoản thu chính từ thuế, phí, lệ phí; còn có các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Thu NSNN được thực hiện bằng các hình thức: bắt buộc bao gồm thuế, phí, lệ phí; bán tài nguyên, tài sản quốc gia, các khoản thu trong các doanh nghiệp nhà nước.
Ngoài ra, tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà còn có các hình thức động viên khác như trưng thu, trưng mua… Quản lý quá trình thu NSNN chính là quản lý các hình thức động viên đó. Quản lý quá trình thu NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau: Một là, đảm bảo tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính quốc gia vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cần thiết của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử; Hai là, đảm bảo khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra nguồn thu của NSNN ngày càng lớn hơn; Ba là, coi trọng yêu cầu công bằng xã hội, đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành. * Đối với quản lý thu thuế: - Mục tiêu quản lý thu thuế: + Một là, bảo đảm thực hiện tốt nhất dự toán thuế đã được cơ quan quyền lực nhà nước quyết định 17 Dự toán thuế được xác lập dựa trên cơ sở nguồn thu dự kiến phát sinh và nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong năm kế hoạch. Dự toán thuế được tổng hợp vào dự toán NSNN và được thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước quyết định.
Vì vậy, các chỉ tiêu trong dự toán thuế là chỉ tiêu pháp lệnh buộc các cấp, các ngành và các đơn vị có liên quan phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh. Hoàn thành và hoàn thanh vượt mức các chỉ tiêu của dự toán thuế là mục tiêu hàng đầu của công tác quản lý thu thuế nhằm đảm bảo tính chủ động trong điều hành và quản lý NSNN; bởi vì thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN và dự toán thuế là bộ phận cấu thành quan trọng trong dự toán NSNN; + Hai là, bảo đảm các văn bản pháp luật về thuế được thực thi một cách nghiêm chỉnh trong thực hiện đời sống kinh tế - xã hội Bảo đảm cho các văn bản pháp luật về thuế được thực thi một cách nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội là mục tiêu tất yếu của công tác quản lý thu thuế xuất phát từ yêu cầu quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội theo pháp luật của Nhà nước pháp quyền; + Ba là, bảo đảm phát huy được vai trò tích cực của thuế trong điều chỉnh vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội theo mục tiêu của nhà nước Thuế là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước điều chỉnh vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội. Đồng thời, thuế có tác động sâu rộng đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Quản lý thu thuế cần phải phát huy được những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của thuế đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, nhằm góp phần điều chỉnh vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội theo mục tiêu của Nhà nước đã định trong từng thời kỳ.
- Yêu cầu quản lý thu thuế: + Một là, quản lý thu thuế phải bảo đảm thu đúng theo luật định; + Hai là, quản lý thu thuế phải vận dụng thống nhất các văn bản pháp luật về thuế và xây dựng các biện pháp quản lý thu thuế phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kì, tạo thuận lợi cho người thu và nộp thuế, tối thiểu hóa chi phí hành thu; + Ba là, Quản lý thu thuế phải gắn với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội vĩ mô của nhà nước trong từng thời kì.