CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. KIẾM SOÁT VÀ QUY TRÌNH KIỂM SOÁT TRONG CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm và vai trò của kiểm soát trong quản lý 1. Khái niệm kiểm soát trong quản lý Quản lý luôn được nhìn nhận là hoạt động quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Quản lý được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về Quản lý. Harold Koontz (1992) nhận định: Quản lý là quá trình nhằm đạt được sự khéo léo sử dụng các nguồn lực có hiệu quả. Theo định nghĩa này thì quản lý là một quá trình tích cực. Nó chăm lo đến các nguồn lực với mục tiêu cuối cùng là sử dụng các nguồn lực đó theo cách hiệu quả nhất có thể.
Và quản lý được coi là một quá trình bao gồm các giai đoạn: Lập kế hoạch, tổ chức, cung cấp các nguồn lực, điều hành và kiểm soát. Quản lý là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được, theo James H (2001).TS Nguyễn Quang Quynh (2003), quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ Sở các nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quà cao nhất. Quá trình này bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều giai đoạn từ khi đưa ra định hướng trên cơ sở dự báo các nguồn lực, mục tiêu cần có và có thể đạt tới, cho đến khi những định hướng này được triển khai thành các kế hoạch, các chương trình hành động và cuối cùng chúng được tổ chức thực hiện trong thực tế. Theo quan niệm này, quản lý bao gồm các giai đoạn: Định hướng, tổ chức thực hiện, cung cấp nguồn lực và điều hành, trong đó kiểm tra là một chức năng được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong quá trình quản lý.
e 12 Theo Nguyễn Ngọc Bích (2016) quản lý là việc tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện như đường lối của chính quyền đã quy định. quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định ra. Quá trình quản lý bắt đầu từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có hên quan. Việc lập kế hoạch được trợ giúp bởi việc tổ chức và cung cấp những nguồn lực cần thiết - kể cả con người.
Sau đó các nhà quản lý có những hoạt động cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đã xây dựng. Thông thường những hoạt động đó tự nó chưa được coi là đầy đủ. Mọi việc hiếm khi được thực hiện đúng như dự định và sai lầm cũng có thể xảy ra khi những điều kiện môi trường thay đổi. Do đó, các nhà quản lý cần những biện pháp và hành động phụ thêm để có được những mục tiêu tốt hơn, ngăn ngừa những loại hành động không mong muốn.
Chức năng kiểm soát chính là đem lại những biện pháp, hành động và thủ tục cần thiết cho những nhà quản lý. kiểm soát tổn tại như một “khâu” độc lập của quá trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó. Kiểm soát là cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội. Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch và chỉnh sửa các sai lệch quan trọng.
Đích cuối cùng mà quá trình quản lý hướng tới chính là việc đạt được mục tiêu đã đặt ra trong khuôn khổ một tổ chức nhất định. Việc thực hiện các kế hoạch luôn phải đối mặt với những thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức, nếu không có kiểm soát, các nhà quản lý sẽ không có thông tin để ra các quyết định thích hợp nhằm thích ứng và đối phó với sự thay đổi này. Vì vậy, mục tiêu đặt ra khó có thể thực hiện được. Chính vì vậy, nghiên cứu và thực hiện các kế hoạch luôn phải đối mặt với những thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức, e 13 nếu không có kiểm soát, các nhà quản lý sẽ không có thông tin để ra các quyết định thích hợp nhằm thích ứng và đối phó với sự thay đổi này.
mục tiêu đặt ra khó có thể thực hiện được. Chính vì vậy. nghiên cứu và thực hiện kiểm soát luôn là nội dung gắn hền với quản lý. Theo Fayol (1949), kiểm soát là việc kiểm tra để khẳng định mọi việc có được thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và các nguyên tắc đã được thiết lập hay không, từ đó nhằm chỉ ra các yếu kém và sai phạm cần phải điều chỉnh, đồng thời ngăn ngừa chúng không được phép tái diễn.
Theo Harold Koontz (1992) kiểm soát là việc đo lường và chỉnh sửa hoạt động nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu của doanh nghiệp và các kế hoạch được lập ra nhằm thực hiện các mục tiêu đó là đạt được. Theo Nguyễn Ngọc Bích (2006), kiểm soát được hiểu là hoạt động xem xét có gì sai quy tắc, điều lệ, kỷ luật hay không và có - đặt hoặc giữ dưới sức mạnh và quyền hành của chủ thể thực hiện hoạt động kiểm soát.TS Nguyễn Quang Quynh (2003): kiểm soát được hiểu là tổng hợp các phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý. Với ý nghĩa như vậy. kiểm soát được hiểu theo nhiều hướng khác nhau.
Chẳng hạn như cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua các biện pháp hoặc chính sách cụ thể; đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi phối đáng kể dựa trên quyền Sở hữu và lợi ích tương ứng: nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua nội quy và quy chế. Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý và quản lý được chia thành: quản lý vĩ (quản lý nhà nước) và quản lý vi mô (quản lý cấp đơn vị). Trong mọi trường hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động, các đơn vị cơ sở đều phải tiến hành kiểm tra, rà soát các hoạt động của mình. Kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả, hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động e 14 nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, theo Jones (2003).
Thực chất kiểm soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả (theo PGS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2019)). kiểm soát được hiểu là kiểm tra, soát xét nhằm phát hiện những lệch lạc trong quá trình thực thi các quyết định quản lý so với các quy định, từ đó điều hành đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Trên cơ sở phân tích một số quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, Tác giả đưa ra khái niệm về kiểm soát: “Kiểm soát là chức năng quan trọng trong quản lý, được thực hiện tại các cấp độ và giai đoạn khác nhau trong quản lý theo cách thức phù hợp với đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Kiểm soát bao gồm việc đo lường, đánh giá đối tượng kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả trong quản lý”. Vai trò của kiểm soát trong quản lý Vai trò của kiểm soát trong quản lý được thể hiện trên nhiều mặt: Một là, kiểm soát góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý: Như đã phân tích kiểm soát là không thể thiếu được trong hoạt động quản lý. Các thông tin do các cơ quan thực hiện kiểm soát cung cấp cho chủ thể quản lý càng chính xác, đúng đắn thì càng bảo đảm sự thành công và hiệu quả của hoạt động quản lý. Đồng thời khi nhận được các thông tin qua các kết luận của cơ quan kiểm soát, khách thể kiểm soát cùng tự điều chỉnh hành vi của mình để sửa chữa những thiếu sót, sai phạm và tự hoàn thiện mình; Hai là, kiểm soát góp phần hoàn thiện pháp luật, bộ máy các cơ quan Nhà nước: Cơ quan kiểm soát với chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác bảo vệ nền pháp chế XHCN; thông qua hoạt động kiểm soát, phát hiện những sơ hở, khiếm khuyết, không hợp lý.
Những thiếu sót của pháp luật, của cơ chế hoạt động quản lý và cơ cấu tổ e 15 chức bộ máy, kịp thời phản ánh, kiến nghị đến các chủ thể quản lý. Từ những phản ánh, kiến nghị, kết luận kiểm soát, các chủ thể quản lý sẽ nghiên cứu tiến hành sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, ban hành mới các văn bản pháp luật, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và đổi mới cơ chế quản lý cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước. Đồng thời, chủ thể quản lý cũng được phản ánh về tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức, phong cách và lề lối làm việc cũng như các sai phạm, thiếu sót, năng lực làm việc của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước. Qua đó, đề ra được phương pháp, kế hoạch nhằm bồi dưỡng, sử dụng và xử lý, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng trong sạch vững mạnh; Ba là, kiểm soát góp phần đảm bảo thực thi pháp chế, phòng ngừa vi phạm pháp luật và những hiện tượng tiêu cực, hành vi phạm tội.
Một Nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật chưa đủ để giữ vững an ninh, trật tự xã hội mà phải có một nền pháp chế vững chắc. Pháp luật chỉ có hiệu lực thực sự khi nó được xây dựng trên nền pháp chế vững chắc. Ngược lại nền pháp chế chi được đảm bảo khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ và phù hợp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật nhằm điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả các quan hệ xã hội theo ý chỉ nhà nước.
Để loại trừ những hành vi vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống pháp chế, nhà nước phải thường xuyên, liên tục tiến hành hoạt động kiểm soát để xem xét tại chỗ những việc làm đúng hay sai của các chủ thể quản lý, của cán bộ, công chức trong việc thực thi pháp luật, thực hiện nhiệm vụ được giao.