CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TẬP ĐOÀN CARLSBERG VIỆT NAM CHI NHÁNH MIỀN BẮC 1.Đặc điểm nguyên vật liệu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn tập đoàn Carlsberg Việt Nam chi nhánh Miền Bắc Nguyên vật liệu là đối tượng lao động, là một trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất và là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể và sản phẩm. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và không giữ nguyên hình thái vật liệu ban đầu, chuyển toàn bộ giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là loại tài sản lưu động thuộc nhóm tài sản dự trữ. Nó là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm, vật liệu rất phong phú về chủng loại, phức tạp về kỹ thuật, về đặc tính lý hoá, nó tồn tại dưới nhiều trạng thái khác nhau.
Bởi vậy, việc cung cấp vật liệu có kịp thời hay không, số lượng chủng loại có phù hợp không có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thực hiện kế hoạch sản phẩm của doanh nghiệp, chất lượng của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của vật liệu. Công ty trách nhiệm hữu hạn tập đoàn Carlsberg Việt Nam chi nhánh Miền Bắc với chức năng trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh các loại bia, rượu, nước giải khát nên đối tượng nghiên cứu chủ yếu trong chuyên đề này là nguyên vật liệu để sản xuất bia. Các loại NVL được sử dụng để sản xuất bia bao gồm: - Malt là loại lúa đại mạch nảy mầm được sấy khô và đóng vào từng bao 50kg. Loại nguyên liệu này được dùng để tạo đường trong quá trình nấu bia, đây chính là nguyên liệu tạo nên hương vị đặc trưng của bia.
Loại cây này Lớp: Kế toán K 44 3 Đại học Kinh tế Quốc dân Phạm Thị Liên Hoa được trồng rộng rãi tại các nước phương Tây, Tổng công ty thường nhập Malt từ các nước như Pháp, Úc, Hà Lan… - Hops (hay còn gọi là hoa Hublon) là loại cây trồng ở Châu Âu, Mỹ và Australia. Loại nguyên liệu này được dùng để tạo vị đắng của bia và được nhập từ Đức. - Gạo được dùng để thay thế một phần cho Malt với mục đích giảm giá thành sản phẩm. Gạo dùng để nấu bia tại Tổng công ty được mua trong nước nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu sau: có trên 95% tinh bột, độ ẩm chỉ 1- 2%, phải là gạo mới và có mùi thơm của gạo.
- Các hợp chất nấu: H3PO4, CaCl2, CaSO4, Hexametylen - Các vật liệu phụ và hợp chất tẩy rửa: bột trợ lọc (để tạo màng lọc), giấy lọc (tạo màng lọc), NaOH, P3Oxonia Để tiến hành sản xuất các sản phẩm, Tổng công ty phải sử dụng một khối lượng lớn vật liệu gồm nhiều chủng loại khác nhau. Do đó muốn quản lý chặt chẽ và hạch toán chính xác về nguyên vật liệu thì Tổng công ty phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu. Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp các nguyên vật liệu cùng với nhau theo một đặc trưng nhất định nào đó để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán. Có nhiều cách phân loại NVL khác nhau: * Phân loại theo công dụng của nguyên vật liệu: Cách phân loại này dựa vào vai trò của nguyên vật liệu để sắp xếp nguyên vật liệu theo những nhóm nhất định.
Theo đặc trưng này, nguyên vật liệu được chia thành các loại sau: - Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm. - Nguyên vật liệu phụ: Nguyên vật liệu phụ chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như làm tăng chất lượng sản phẩm, hoặc Lớp: Kế toán K 44 4 Đại học Kinh tế Quốc dân Phạm Thị Liên Hoa phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ sản xuất như các loại phụ gia, sơn, xà phòng… - Nhiên liệu: là các loại nhiên liệu ở thể lỏng, khí, rắn dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị thi công như xăng, dầu, than củi, hơi đốt… - Phụ tùng thay thế: bao gồm các loại phụ tùng chi tiết dùng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải… - Thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các loại thiết bị, phương tiện được sử dụng cho công tác xây dựng cơ bản. - Phế liệu thu hồi: là những loại vật liệu thu hồi từ quá trình sản xuất kinh doanh để tái sử dụng hoặc bán ra ngoài. Ngoài các nguyên vật liệu ở trên, những nguyên vật liệu còn lại được xếp vào nhóm này.
Việc phân loại như trên có ưu điểm là giúp người quản lý thấy rõ vai trò và tác dụng của từng loại nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Qua đó đề ra quyết định về quản lý và hạch toán từng loại nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguyên vật liệu. Tuy nhiên cách phân loại này còn bộc lộ một số nhược điểm: nhiều khi rất khó phân loại ở một doanh nghiệp, có những lúc nguyên vật liệu chính được thực hiện như một nguyên vật liệu phụ. * Phân loại theo quyền sở hữu: Theo cách phân loại này nguyên vật liệu được chia thành các loại sau: - Nguyên vật liệu tự có: bao gồm tất cả các nguyên vật liệu thuộc sở hữu của doanh nghiệp.
- Vật liệu nhận gia công chế biến hay giữ hộ. Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể theo dõi, nắm bắt được tình hình hiện có của nguyên vật liệu để từ đó lên kế hoạch thu mua, dự trữ nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lớp: Kế toán K 44 5 Đại học Kinh tế Quốc dân Phạm Thị Liên Hoa * Phân loại theo nguồn hình thành: Với cách phân loại này nguyên vật liệu được chia thành các loại sau: - Nguyên vật liệu mua ngoài: Là những nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp mua ngoài thị trường. - Nguyên vật liệu tự sản xuất: Là những nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự chế biến hay thuê ngoài chế biến.
- Nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh, liên kết hoặc được biếu tặng, cấp phát. Cách phân loại này tạo tiền đề cho quản lý và sử dụng riêng từng loại nguyên vật liệu, từng nguồn nhập khác nhau. Trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu đồng thời giúp tính giá nguyên vật liệu được chính xác. Căn cứ vào vai trò của nguyên vật liệu trong Tổng công ty, nguyên vật liệu được chia làm nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ: - Nguyên vật liệu chính: Là các loại vật liệu chủ yếu hình thành nên sản phẩm như Malt, hoa Hublon, gạo tẻ, gạo nếp, đường, khí CO2, thuốc chống váng, men.
- Nguyên vật liệu phụ: gồm các hoá chất như hoá chất nấu, hoá chất lọc, hoá chất rửa. - Nhiên liệu: gồm than đá, xăng dầu. cung cấp nhiệt lượng cho sản xuất cũng như sử dụng cho các hoạt động khác trong Tổng công ty. - Phụ tùng thay thế: như vòng bi, dây curoa, bulông.
phục vụ cho việc thay thế, sửa chữa thiết bị. - Các vật liệu khác: Các vật liệu này chủ yếu phục vụ cho sửa chữa như máy móc, sắt thép. Cách phân loại này nói chung là phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Lớp: Kế toán K 44 6 Đại học Kinh tế Quốc dân Phạm Thị Liên Hoa 1.
Đặc điểm luân chuyển nguyên vật liệu của Công ty trách nhiệm hữu hạn tập đoàn Carlsberg Việt Nam chi nhánh Miền Bắc * Đánh giá nguyên vật liệu: Đánh giá NVL là việc xác định giá trị của NVL ở những thời điểm nhất định và theo những phương pháp thích hợp. Ở Tổng công ty việc tính giá NVL đều được sử dụng theo những công thức tương tự nhau. NVL tại Tổng công ty được tính theo nguyên tắc giá thực tế (giá gốc) đúng quy định chuẩn mực kế toán hiện hành. Giá thực tế của nguyên vật liệu là loại giá được hình thành trên cơ sở các chứng từ hợp lệ chứng minh các khoản chi hợp pháp của doanh nghiệp để tạo ra nguyên vật liệu.
* Đối với NVL nhập kho: NVL ở Tổng công ty chủ yếu là do mua ngoài (trong đó có một số NVL được nhập khẩu nhưng con số này không nhiều), và có một phần nhỏ NVL là do thuê ngoài gia công chế biến. Với cách tính cụ thể như sau: Đối với NVL mua ngoài nhập kho thì giá thực tế bao gồm: Chi phí mua thực tế (Chi Chiết Giá mua thực tế phí vận khấu Giá thực tế ghi trên hóa đơn chuyển, bốc thương NVL mua = (không bao gồm + - dỡ; Tiền công mại, ngoài thuế GTGT) + tác phí; Chi giảm giá Thuế nhập khẩu phí của bộ (nếu có) phận thu mua) Ví dụ 1: Ngày 05/04/2016, Tổng công ty mua của Công ty cổ phần thực phẩm Đại Lộc 20.000kg gạo tẻ loại 1, đơn giá chưa có thuế GTGT là 3. Công ty Đại lộc giao hàng đến tận kho của Tổng công ty nên đơn Lớp: Kế toán K 44 7 Đại học Kinh tế Quốc dân Phạm Thị Liên Hoa giá này đã bao gồm cả chi phí vận chuyển. Sau khi kiểm tra về số lượng và chất lượng giá thực tế của gạo tẻ loại 1 nhập kho là: 20.000 đồng Ví dụ 2: Ngày 10/04/2016, Tổng công ty mua 50.000 vỏ chai 330ml của Công ty CPTM & DV tổng hợp Đức Thành, đơn giá chưa có thuế GTGT là 1.
Chi phí vận chuyển hàng về kho là 200. Sau khi phòng kinh doanh kiểm tra chất lượng và số lượng của lô hàng trên thì giá thực tế của lô hàng được xác định là: 50.000 đồng Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Giá thực tế Chi phí từ của NVL Giá thực tế NVL doanh nghiệp Tiền thuê gia xuất để thuê ngoài gia = + đến nơi gia + công chế thuê gia công công và ngược biến phải trả công chế lại biến Ví dụ 3: Ngày 07/04/2016 Tổng công ty thuê ngoài gia công chế biến cuộn bao bì cắt ngắn thành túi đựng sản phẩm với giá thực tế xuất của NVL để mang đi gia công là 11. Chi phí vận chuyển là 457. Tiền thuê gia công chế biến là 7.
Sau khi gia công thu được 56.275 túi đựng, đơn giá cho mỗi túi là 346,78 đồng/1túi. Tổng giá thực tế của NVL xuất gia công chế biến là: 11.