CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ PHÂN PHỐI KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về đơn vị sự nghiệp công lập a. Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập Theo Luật viên chức số 58/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 15/11/2010 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012, tại Điều 9 của luật có quy định: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [14, tr.
Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015, tại Điều 2 của Nghị định có quy định: “Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của ngành kinh tế quốc dân” [4, tr. Theo Giáo trình “Quản trị tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp”, đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là “đơn vị được Nhà nước thành lập để thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính, đảm bảo an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội, các đơn vị này được Nhà nước cấp kinh phí và hoạt động theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp” [10, tr. Tổng kết lại, đơn vị sự nghiệp công lập được biết đến là đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, phục vụ chức năng quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công trong các ngành lĩnh vực theo quy định của pháp luật như y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ,…Các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu, cung cấp những sản phẩm mang lại lợi ích chung, lâu dài và bền vững cho xã hội. Nguyễn Thị Khánh Huyền K21KTDND Khóa luận tốt nghiệp 8 Học viện Ngân hàng b.
Đặc điểm hoạt động đơn vị sự nghiệp công lập Các đơn vị SNCL hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau với các nhiệm vụ và chức năng khác nhau. Tuy nhiên, các đơn vị SNCL đều có các đặc điểm chung: Hoạt động theo dự toán đã Thường được Nhà nước cấp được cấp có thẩm quyền toàn bộ hoặc một phần dự duyệt - giao toán KPHĐ thường xuyên Tự xây dựng dự Mục đích hoạt Đặc điểm đơn động không vì toán thu, chi hàng vị sự nghiệp năm/quý theo quy lợi nhuận, chủ công lập yếu phục vụ lợi định của Nhà nước ích cộng đồng Hoạt động gắn liền và Sản phẩm mang lại lợi bị chi phối bởi chương ích chung có tính bền trình phát triển KTXH vững, lâu dài cho xã của Nhà nước hội Sơ đồ 1.1: Đặc điểm hoạt động đơn vị sự nghiệp công lập c. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Tùy thuộc vào các cách tiếp cận hoặc do yêu cầu của quản lý Nhà nước khác nhau mà có thể phân loại các đơn vị SNCL theo các cách khác nhau: * Căn cứ theo Cơ chế quản lý tài chính + Đơn vị sự nghiệp thuần túy không thực hiện cơ chế khoán biên chế và không phải quản lý hành chính. + Đơn vị sự nghiệp thuần túy có thực hiện cơ chế khoán biên chế và không phải quản lý hành chính.
+ Đơn vị sự nghiệp hoạt động theo cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu. Nguyễn Thị Khánh Huyền K21KTDND Khóa luận tốt nghiệp 9 Học viện Ngân hàng * Căn cứ mức độ tự chủ tài chính (Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/06/2021) + Đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư: các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên đảm bảo được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên và chi đầu tư, NSNN không phải cấp kinh phí cho đơn vị. + Đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên: các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp ổn định nên đảm bảo được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, tuy nhiên NSNN phải cấp kinh phí cho hoạt động chi đầu tư của đơn vị. + Đơn vị SNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: là những đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN phải cấp một phần cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.
+ Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: là những đơn vị phụ thuộc toàn bộ vào kinh phí do NSNN cấp. * Căn cứ theo phân cấp dự toán NSNN + Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận kinh phí do các cấp chính quyền giao, phân bổ dự toán cho đơn vị cấp dưới (II, III), chịu trách nhiệm thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách cấp mình và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới. + Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị nhận DTNS của đơn vị cấp I và phân bổ DTNS cho đơn vị cấp III, chịu trách nhiệm về thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách cấp mình và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới. + Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp nhận DTSN của đơn vị cấp II hoặc cấp I, chịu trách nhiệm thực công tác kế toán và quyết toán ngân sách cấp mình và quyết toán của các đơn vị phụ thuộc cấp dưới.
* Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động Đơn vị SNCL hoạt động trong các lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa thể thao, kinh tế,… Nguyễn Thị Khánh Huyền K21KTDND Khóa luận tốt nghiệp 10 Học viện Ngân hàng 1. Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập * Mối quan hệ đơn vị SNCL và các đơn vị chức năng Đơn vị SNCL là một bộ phận trong hệ thống bộ máy quản lý của Nhà nước nên luôn chịu sự chi phối của Nhà nước thông qua các công cụ quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính. Mối quan hệ giữa đơn vị SNCL và các đơn vị chức năng (Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản, Chính quyền địa phương và cơ quan quản lý cấp trên) trong hệ thống quản lý Nhà nước được thể hiện bằng sơ đồ: Kho bạc Nhà nước Chính Cơ quan Đơn vị quyền tài chính SNCL địa phương Đơn vị chủ quản Sơ đồ 1.2: Quan hệ giữa đơn vị SNCL và các cơ quan chức năng * Cơ chế tự chủ tài chính Ngày 14/2/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị SNCL. Việc ban hành Nghị định đã mang lại một số kết quả tích cực như: tăng quyền tự chủ các đơn vị sự nghiệp công lập trong sử dụng tài sản, nguồn lực tài chính, nhân lực trong cung cấp dịch vụ công, tạo điều kiện sử dụng các thế mạnh về tài sản, nguồn lực tài chính, nhân lực để cung cấp dịch vụ công theo cơ chế thị trường.
Tuy vậy, bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn thời gian qua cho thấy tồn tại một số hạn chế, do vậy, Nghị định số 60/2021/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 21/06/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị SNCL nhằm khắc phục những hạn chế của Nghị định trước đó, có hiệu lực thi hành từ ngày Nguyễn Thị Khánh Huyền K21KTDND Khóa luận tốt nghiệp 11 Học viện Ngân hàng 15/08/2021. Theo đó, cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị SNCL được thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính trên quan điểm đơn vị sử dụng tài chính được điều hành linh hoạt tài chính do đơn vị quản lý. Còn đơn vị SNCL có thu được tự chủ tài chính trên cơ sở tăng thu, tiết kiệm chi hợp lý, nếu tạo ra kết quả tài chính thì được sử dụng trích lập bổ sung các quỹ và trả thêm thu nhập cho người lao động theo quy định đối với phần kinh phí được tự chủ. Đồng thời các đơn vị SNCL có thu cũng được phép tự chủ trong việc sử dụng các quỹ theo quy định hiện hành và quy chế chi tiêu nội bộ.
* Quy trình quản lý tài chính của đơn vị SNCL Đơn vị SNCL có mức độ phụ thuộc toàn bộ hoặc một phần vào nguồn kinh phí do NSNN cấp đều phải đảm bảo tuân thủ các quy trình: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách theo quy định. + Lập dự toán thu - chi Lập dự toán thu - chi ngân sách là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu, chi ngân sách hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, cơ sở để lập dự toán thu - chi ngân sách là dựa vào các đặc điểm: Chức năng, nhiệm vụ được giao; Nhiệm vụ của năm kế hoạch; Chế độ chi tiêu tài chính hiện hành, Quy chế chi tiêu nội bộ được phê duyệt; Kết quả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu – chi tài chính của năm trước liền kề. Các phương pháp lập dự toán: - Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của kỳ liền trước và điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dự kiến.
Như vậy phương pháp này rất rõ ràng, dễ hiểu và dễ sử dụng, được xây dựng tương đối ổn định, tạo điều kiện, cơ sở bền vững cho nhà quản lý trong đơn vị trong việc điều hành mọi hoạt động.