Chương 1 của Luận văn đã đề cập đến các nội dung, đặc điểm xuyên suốt và khái quát những vấn đề cơ bản của đề tài. Thông qua việc trình bầy tầm quan trọng của ngành xây dựng đối với việc phát triển nền kinh tế, đặc điểm của hoạt động xây lắp có ảnh hưởng tới cho kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp; tính cấp thiết của việc phải hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nên tác giả đã quyết định lựa chọn vấn đề hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm làm công trình nghiên cứu. Với đề tài đã chọn, tác giả đã tìm hiểu những nghiên cứu đã có trước đây về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của một số tác giả khác, tìm ra một số nội dung cần phát triển sâu hơn. Thông qua chương này, Luận văn nêu rõ được mục tiêu nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn.
Với mục tiêu đó, xác định câu hỏi nghiên cứu đưa ra cần giải quyết là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đế chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Giải quyết các câu hỏi nghiên cứu là quá trình đi tìm hiểu, thu thập dữ liệu phân tích vấn đề trên cơ sở phương pháp nghiên cứu cụ thể. Đề tài thực hiện trong phạm vi bộ phận kế toán của Công ty cổ phần Đầu tư phát triển công nghệ xây dựng A-D với những dữ liệu thực tế, kết cấu theo 4 chương. Với những nội dung trên luận văn có ý nghĩa khái quát về mặt lý luận và chỉ ra các vấn đề thực tiễn để có kiến nghị, đề xuất hoàn thiện.
9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 2. Đặc điểm hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định, tạo dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân. Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của tích lũy cùng với vốn đầu tư của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm riêng biệt về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp (SPXL) và quá trình tạo ra sản phẩm (SP) của ngành. Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất (CPSX) và tính giá thành sản phẩm (GTSP) trong các doanh nghiệp xây lắp như sau: Thứ nhất: sản phẩm xây lắp là sản phẩm mang tính đơn chiếc, riêng lẻ: Sản phẩm xây lắp là những công trình kiến trúc xây dựng, vật kiến trúc.có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian thi công tương đối dài, chứa đựng nhiều hao phí về vật tư, nhân lực của xã hội. Do đó, khi lập kế hoạch xây dựng cơ bản cần cân nhắc, thận trọng, nêu rõ các yêu cầu về vật tư, tiền vốn, nhân công. Việc quản lý, theo dõi quá trình sản xuất, thi công phải đảm bảo chặt chẽ, sử dụng vốn tiết kiệm, đảm bảo chất lượng công trình.
Mỗi sản phẩm xây lắp là một công trình hoặc hạng mục công trình riêng biệt, có yêu cầu về mặt thiết kế, mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau, không sản phẩm nào giống sản phẩm nào. Chính vì vậy, mỗi sản phẩm xây 10 dựng đều có yêu cầu về tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm từng công trình cụ thể. Có như vậy, việc sản xuất mới mang lại hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo cho sản xuất được liên tục. Sản phẩm xây lắp là một loại sản phẩm công nghiệp đặc biệt theo đơn hàng sản phẩm mang tính đơn chiếc, riêng lẻ.
Mỗi công trình, hạng mục công trình đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật, kết cấu, hình thức khác nhau trên các địa điểm khác nhau nên biện pháp tổ chức thi công phải luôn thay đổi chi phù hợp với từng loại sản phẩm xây lắp, đảm bảo việc thi công đem lại hiệu quả kinh tế cao. Cũng do tính chất đơn chiếc, riêng lẻ nên chi phí bỏ ra để thi công xây lắp các công trình có nội dung và cơ cấu không đồng nhất như các loại sản phẩm công nghiệp. Vì vậy, cần hạch toán chi phí và tính giá thành cho từng loại sản phẩm riêng biệt (từng công trình, từng hạng mục công trình hoặc từng nhóm sản phẩm xây lắp). Thứ hai: Sản phẩm xây lắp có giá trị khối lượng công trình lớn, thời gian thi công tương đối dài: Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài.
Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như mưa, lũ lụt., do đó việc thi công xây lắp ở một mức độ nào đó mang tính chất thời vụ. Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý lao động, vật tư phải được giám sát chặt chẽ đảm bảo chất lượng công trình nhanh, đúng tiến độ khi thời tiết thuận lợi. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến thời gian, chất lượng thi công thì có thể sẽ phát sinh các khối lượng công việc khác như phá đi làm lại, phát sinh do ngừng sản xuất.nên doanh nghiệp cần có kế hoạch điều tiết cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
Do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thành thường không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định theo thời điểm thi công công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay bàn giao đưa vào sử dụng. 11 Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành sẽ góp phần to lớn trong việc quản lý sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn hiệu quả cao nhất. Thứ ba: Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận cho nên tính chất hàng hóa của SPXL không thể hiện rõ: Sản xuất ra sản phẩm của các loại hàng hóa khác là quá trình một chiều: sản phẩm được sản xuất ra hàng loạt, sau đó mới bán cho người tiêu dùng thông qua giá thỏa thuẩn. Còn với hoạt động xây lắp, giá cả của sản phẩm xây lắp được tiến hành trước khi tiến hành hoạt động thi công.
Bên chủ đầu tư đặt hàng cho bên thi công, hai bên sẽ tiến hành thẩm định dự toán trước khi hoạt động xây dựng được tiến hành. Điều này làm cho tính chất hàng hóa của SPXL không thể hiện rõ vì đã có sự quy định về giá cả, người mua, người bán sản phẩm xây lắp có trước khi xây dựng thông qua hợp đồng giao nhận thầu. Thứ tư: sản phẩm xây lắp thường được diễn ra ngoài trời, cố định tại nơi sản xuất và chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện môi trường thiên nhiên, thời tiết còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động.) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm: Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát, hư hỏng. Vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp thường thuê lực lượng lao động tại chỗ, nơi thi công công trình; trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động vật tư chặt chẽ, đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ khi môi trường điều kiện thời tiết thuận lợi.
Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng thi công, có thể phát sinh các khối lượng công trình và gây thiệt hại cho sản xuất, vì thế doanh nghiệp cần có chế độ điều chỉnh cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Thứ năm: Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổ biến theo phương thức khoán gọn: 12 Các công trình, hạng mục công trình giao trong nội bộ doanh nghiệp thường theo hình thức khoán gọn không chỉ bao gồm tiền lương mà cả các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán. Những đặc điểm trên ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Công tác kế toán vừa phải tuân thủ chế độ kế toán, vừa phải phù hợp với đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp để đảm bảo chất lượng công tác kế toán, cung cấp kịp thời những thông tin cho quản lý 2.
Những vấn đề cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất xây lắp 2. Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp Sản xuất gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của con người. Quá trình sản xuất là quá trình tiêu hao các yếu tố lao động sống và lao động vật hóa để tạo ra các giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người.
Quá trình sản xuất là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu lao động, và lao động sống. Lao động là hoạt động một cách có ý thức của người lao động tác động một cách có mục đích lên đối tượng lao động và tư liệu lao động, quá trình biến đổi sẽ tạo ra sản phẩm, lao vụ. Đó là sự tiêu hao ba yếu tố trên. Trong xã hội tồn tại quan hệ hàng hóa, tiền tệ, hao phí yếu tố nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh được biểu hiện dưới hình thức giá trị, gọi là chi phí sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất xây lắp là quá trình chuyển biến của vật liệu xây dựng thành sản phẩm dưới tác động của máy móc thiết bị cùng sức lao động của công nhân.