Chương 1: Giới thiệu về Đề tài nghiên cứu; Chương 2: Lý luận chung về công tác lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán BKTC của các đơn vị quốc phòng do Kiểm toán nhà nước thực hiện; Chương 3: Thực trạng công tác lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán tài chính do các Tổ kiểm toán thuộc Kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ia thực hiện; Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán BKTC do các tổ kiểm toán thuộc Kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ia thực hiện. 7 CHƯƠNG II LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BẢNG KHAI TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUỐC PHÒNG DO KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN 2. Cơ sở lý luận của lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán tài chính do Kiểm toán nhà nước thực hiện 2. Lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán tài chính Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng kiểm toán ra đời từ thời La Mã cổ đại vào thế kỷ thứ III trước Công Nguyên.
Chính vì vậy, kiểm toán có gốc từ La tinh “Audit”, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại. Mặc dù ra đời đã hơn 2000 năm qua nhưng thực sự kiểm toán chỉ phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XIX. Ở Việt Nam, thuật ngữ “kiểm toán” được sử dụng nhiều vào những năm đầu thập kỷ 90. Với vai trò ngày càng được nâng cao, đi cùng với đó là yêu cầu về mặt chất lượng các cuộc kiểm toán mà thể hiện cụ thể ở BCKT.
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên BKTC, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm 3 giai đoạn: Lập kế hoạch kiểm toán, Thực hiện kiểm toán, Kết thúc kiểm toán (ở KTNN còn giai đoạn thứ tư là kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán). Có một số tiêu chí để phân loại kiểm toán, nếu phân loại kiểm toán theo mục đích thì kiểm toán được chia thành 3 loại: + Kiểm toán hoạt động: là loại kiểm toán nhằm để xem xét và đánh giá về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán. + Kiểm toán tuân thủ: là loại kiểm toán nhằm để xem xét đơn vị được kiểm toán có tuân thủ các quy tắc do các cơ quan Nhà nước cấp trên đề ra, như kiểm tra đánh giá về việc tuân thủ các quy định về thuế giái trị gia tăng, các quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ người lao động… hoặc việc tuân thủ những quy định do 8 người quản lý cấp trên trong đơn vị đề ra hoặc nó còn là việc tuân thủ những quy định do người quản lý cấp trên đơn vị đề ra… + Kiểm toán tài chính: là loại kiểm toán nhằm kiểm tra và xác nhận về tính trung thực, hợp lý của các BKTC được kiểm toán. Lập KHKT là giai đoạn đầu tiên mà KTV cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lỹ cũng như những điều kiện cần thiết khác cho cuộc kiểm toán.
Lập KHKT không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các KTV phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng. Trình tự giai đoạn lập KHKT gồm các bước công việc sau: 2. Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán Đối với KTNN thì việc lựa chọn đơn vị dựa vào kế hoạch đã được xây dựng do Tổng KTNN quyết định và báo cáo Ủy Ban thường vụ Quốc hội thông qua. Dựa theo KHKT năm đã được phê duyệt của từng KTNN chuyên ngành và khu vực sẽ lập KHKT của từng cuộc kiểm toán.
Đối với KHKT năm đã được phê duyệt, các đơn vị sẽ xây dựng kế hoạch kiểm toán cụ thể theo từng thời gian trong năm để đảm bảo các cuộc kiểm toán được kết thúc trước ngày 30/11 hàng năm, phục vụ cho công tác soát xét và tổng hợp kết quả kiểm toán báo cáo lên các cơ quan cấp trên. Khi tiến hành chuẩn bị công tác lập KHKT cho đơn vị cụ thể, cần tiến hành các bước công việc sau: Một là, lựa chọn trưởng đoàn kiểm toán: là người có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác khảo sát kiểm toán, xác định các mục tiêu và nội dung của cuộc kiểm toán dựa trên tài liệu khảo sát, chỉ đạo công tác lập KHKT, lựa chọn nhân sự và thời gian của cuộc kiểm toán. Trưởng đoàn là người chịu trách nhiệm trước kết quả của cuộc kiểm toán. Hai là, thành lập tổ khảo sát và thời gian thực hiện: dựa trên kế hoạch kiểm toán đã được phê duyệt, các đơn vị thuộc KTNN sẽ thành lập tổ khảo sát, tổ khảo 9 sát gồm những KTV đã có kinh nghiệm dày dặn, có khả năng thu thập và đánh giá thông tin để giúp Trưởng đoàn kiểm toán trong công tác lập KHKT.
Trưởng đoàn kiểm toán sẽ lập kế hoạch khảo sát kiểm toán để tiến hành thu thập các bằng chứng cần thiết phục vụ cho công tác lập KHKT. Thu thập thông tin cơ sở Để tiến hành lập KHKT, KTV thu thập hiểu biết về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, bao gồm: Một là, tìm hiểu về ngành nghề, hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán: Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành, KTV phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Điều này rất cần thiết khi KTV thực hiện kiểm toán với tính thận trọng nghề nghiệp đúng mức. Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh bao gồm những hiểu biết chung về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị và sự hiểu biết cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị được kiểm toán.
Ngoài ra, KTV còn phải hiểu cả những khía cạnh đặc thù của một tổ chức cụ thể như: cơ cấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất, cơ cấu vốn, chức năng và vị trí của kiểm toán nội bộ… để hiểu rõ các sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động có thể tác động đến BKTC và để thực hiện quá trình so sánh đơn vị mình kiểm toán với các đơn vị cùng ngành. Hai là, xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung: các hồ sơ kiểm toán của các năm trước đều chứa đựng thông tin của đơn vị được kiểm toán cũng như những vấn đề mà đơn vị được kiểm toán mắc phải. Qua đó, KTV tìm thấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của đơn vị được kiểm toán. Ba là, tham quan nhà xưởng: khi quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sẽ cung cấp cho KTV những điều mắt thấy tai nghe về quy trình sản xuất kinh doanh của đơn vị và nó cho phép KTV gặp gỡ các nhân vật chủ chốt và cung cấp cho KTV một cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của đơn vị.
Điều này tạo điều kiện cho việt thuyết minh số liệu kế toán, phát hiện những vấn đề 10 quan tâm như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máy móc lạc hậu và không được phát huy hết công suất… do đó KTV cũng đưa ra được những nhận định ban đầu về phong cách quản lý của ban giám đốc, tính hệ thống trong việc sắp đặt công việc. Bốn là, nhận diện các bên liên quan: trong giai đoạn này, KTV phải xác định được tất cả các bên liên quan với đơn vị được kiểm toán, có thể hiểu các bên liên quan là các tổ chức và cá nhân có ảnh hưởng tác động đến việc kinh doanh của đơn vị. KTV có thể quan tâm đến sự hiện hữu của các bên liên quan trên hai khía cạnh: thứ nhất là tất cả các nghiệp vụ giao dịch quan trọng đã được công bố đầy đủ; thứ hai là tất cả các nghiệp vụ giao dịch giữa đơn vị được kiểm toán và các bên liên quan được ghi chép lại để phản ánh bản chất kinh tế hơn là để phản ảnh hình thức kinh tế của nghiệp vụ. Theo các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận, bản chất mối quan hệ giữa các bên liên quan phải được công khai trên sổ sách, báo cáo thông qua các nghiệp vụ kinh tế.
Do vậy các bên liên quan và các nghiệp vụ giữa các bên liên quan có ảnh hưởng lớn đến sự nhận định của người sử dụng BKTC. Do vậy, KTV phải xác định các bên liên quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này ngay trong giai đoạn lập kế hoạch thông qua phỏng vấn ban giám đốc (người đứng đầu), xem sổ theo dõi cổ đông, sổ theo dõi khách hàng, nhà cung cấp để bước đầu tự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các bên liên quan. Năm là, dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài: Nếu lĩnh vực hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán là lĩnh vực đặc thù, cần có sự hỗ trợ từ chuyên gia thì KTV có thể quyết định sử dụng chuyên gia bên ngoài để có được các ý kiến tư vấn từ họ. KTV cần xem xét mối quan hệ giữa chuyên gia với đơn vị được kiểm toán, những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của chuyên gia đó.
Như vậy, KTV cần xác định các vấn đề cần có sự tư vấn của chuyên gia, nhờ đó KTV có thể chắc chắn rằng khi cần thiết, anh ta sẽ nhận được sự tư vấn của chuyên gia có năng lực và độc lập với đơn vị được kiểm toán.