Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Bình Triệu giai đoạn 2015 - 2017 Chương III: Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Bình Triệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014) “NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các loại hình doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hôi và cá nhân, bằng việc huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hoạt kỳ, tiền gửi định kỳ, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng là khách hàng trong nền kinh tế. Chức năng của ngân hàng thƣơng mại Trong cơ chế thị trường, NHTM thực hiện được ba chức năng cơ bản gồm chức năng trung gian tài chính, chức năng trung gian thanh toán và chức năng “tạo tiền”.
Đối với chức năng trung gian tài chính được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM, nó quyết định đến sự tồn tại của ngân hàng, đây là cơ sở để triển khai những hoạt động khác. Trong chức năng này, NHTM ở vị trí trung gian đứng ra huy động và sử dụng nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế để luân chuyển đến các tổ chức và cá nhân đang có nhu cầu vốn. Mặc khác, NHTM cũng là một chủ thể vô cùng quan trọng tham gia điều phối trên thị trường tài chính bằng các hoạt động đầu tư sinh lời, cung cấp các dịch vụ tài chính cho các chủ thể khác. Về chức năng trung gian thanh toán, NHTM là người quản lý tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, do đó NHTM thực hiện được chức năng trung gian thanh toán cho khách hàng.NHTM cũng đóng vai trò là một tổ chức trung gian thực hiện việc thanh toán, chi trả thay cho những khách hàng có nhu cầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thanh toán qua Ngân hàng theo sự ủy nhiệm của khách hàng.
Chức năng thanh toán mang lại sự thuận thiện cho khách hàng hoạt động thanh toán đồng thời góp phần thu hút lượng tiền. Cuối cùng, chức năng “tạo tiền” được thực thi trên cở sở của hai chức năng trung gian tài chính và chức năng trung gian thanh toán. Chức năng này đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều Ngân hàng và khách hàng. NHTM có khả năng tạo ra một lượng tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng hơn gấp nhiều lần so với lượng tiền gửi ban đầu của khách hàng, số lượng khách hàng tham gia vào quá trình tại tiền và tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Vai trò của ngân hàng thƣơng mại NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất. NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động của NHTM, NHTW thực hiện chính sách tiền tệ phục vụ các mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của chính phủ bằng các công cụ như ấn định hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở để tác động tới lượng tiền cung ứng trong lưu thông.
Ngoài ra, NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế vì thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG 1.
Khái niệm về tín dụng Tín dụng, có nguồn gốc từ tiếng Latinh là credittum có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau ví dụ như: Theo lý thuyết của K.Marx (2013) thì “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi lại một lượng giá trị hơn giá trị ban đầu”. Theo đó, người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định, sau khi khoản vay đó đến hạn sử dụng theo thỏa thuận thì người đi vay phải hoàn trả cho người đi vay phần vốn gốc cộng với khỏan phí cơ hội mà người cho vay mất đi khi bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt hơn; Giá trị được hoàn trả thường lớn hơn lúc hai bên kí kết hợp đồng tín dụng. Theo định nghĩa của Lê Thị Tuyết Hoa (2011), tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng lớn hơn ban đầu. Hay tín dụng còn được định nghĩa là hình thức vận động của vốn cho vay, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử đụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả gốc và k m theo lợi tức.
Phân loại hoạt động tín dụng của NHTM Đế đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của khách hàng, ngân hàng luôn phải nghiên cứu đưa ra các sản phẩm phù hợp, điều này khiến cho tín dụng ngân hàng trở nên phong phú và đa dạng như ngày nay. Để có cái nhìn tổng quan về các loại tín dụng, theo Nguyễn Văn Tiến (2010) dựa vào các tiêu chí khác nhau có thể có rất nhiều hình thức tín dụng, ta có các loại như sau: Căn cứ vào mục đích tín dụng Tín dụng bất động sản là các khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản. Với tín dụng ngắn hạn cho xây dựng nhỏ và sửa chữa nhà cửa và tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, cơ sở dịch vụ, trang trại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Tín dụng công thương nghiệp là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả thuế và chi trả lương.
Tín dụng nông nghiệp là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng, chăn nuôi gia súc. Tín dụng tiêu dùng là khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như ô tô, nhà, laptop, di động, trang thiết bị trong nhà, cho vay du học. Tín dụng đầu tư tài chính là các khoản tín dụng cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp mua chứng khoán, vàng. Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp như bổ sung ngân quỹ, ứng trước tiền hàng, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, duy trì hàng tồn kho…hay dùng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng các nhân và hộ gia đình.
Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô và thị trường, vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác. Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Tín dụng trung hạn còn là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp mới thành lập. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, thường được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biển, sân bay,…), cải tiền và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Do thời hạn đầu tư thường kéo dài, nên tín LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 dụng dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều liền theo tiến độ dự án. Nhìn chung, tín dụng dài hạn chịu rủi ro rất lớn, bởi vì thời hạn càng dài thì những biến động không đự tính có thể xảy ra càng lớn. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm Tín dụng có bảo đảm là loại tín dụng có tài sản cấm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức tín dụng này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo hoặc phải có người bảo lãnh.
Tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của người đi vay thiếu hụt, do lo sợ phát mãi tài sản đã tạo ra áp lực buộc người đi vay phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng. Tín dụng không có bảo đảm là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao và số tiền tiền vay không lớn.