chương 1, luận văn tóm lược các lý thuyết về đo lường hiệu quả kinh doanh của các tác giả trên thế giới, tập trung phân tích sâu về lý thuyết BSC. Các lý thuyết về chiến lược cơ bản và KPI cũng sẽ được trình bày trong chương này như tầm nhìn, chiến lược, chỉ tiêu trọng yếu… Nghiên cứu lý thuyết chiến lược tập trung vào phần triển khai giúp cho quá trình tìm hiểu mục tiêu chiến lược của công ty được rõ ràng. Bên cạnh đó các nghiên cứu đo lường hiệu quả kinh doanh cũng chỉ rõ các khái niệm, công cụ đo lường phù hợp với từng loại hình chiến lược cụ thể. Trình bày kỹ về BSC và KPI giúp luận văn có lý thuyết cụ thể hơn khi so sánh với thực tế để phát hiện ra được những khe hở trong việc triển khai chiến lược của công ty tới các KPI của bộ phận phòng ban.
Nguồn: Tổng hợp bởi tác giả Hình 1.1 : Khung lý thuyết nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lý thuyết đo lường hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh vẫn là một mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp hay các nhà nghiên cứu về kinh tế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả tuy nhiên vẫn có một điểm chung là sự so sánh giữa đầu vào và đầu ra. Tuy nhiên để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp ngày nay có rất nhiều khía cạnh đo lường chứ không còn đơn thuần là khía cạnh tài chính chi phí và doanh thu. Và hiện nay các quan điểm hiện đại cũng thể hiện rõ việc đo lường hiệu quả kinh doanh nhằm điều chỉnh chiến lược phù hợp với tình hình thực tế chứ không đơn thuần là đánh giá hiệu quả làm việc của bộ phận sau đó làm dữ liệu để khen thưởng.
Hiệu quả kinh doanh Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn xây dựng những phương thức hoạt động sao để gia tăng giá trị lợi nhuận của mình một cách bền vững. Doanh nghiệp cũng luôn phải đo lường hiệu quả hoạt động của các chiến lược.Nordhaus thì "hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một cách hàng loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó". Theo Wohe và Doring thì “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg…) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu…) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền" TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Theo Manfred Kuhu thì "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" Có hai khái niệm cần được hiểu đúng khi nghiên cứu về quản trị, đó là khái niệm hiệu quả và hiệu suất.
Một hoạt động quản trị được coi là thành công khi đạt được cả hiệu quả và hiệu suất. Trong quản trị vấn đề rất quan trọng là đạt hiệu quả. Hiệu quả: đo lường về sự thích hợp của các mục tiêu được chọn (đó có phải là những mục tiêu đúng không?) và mức độ chúng được thực hiện. Như vậy, hiệu quả quản trị trước hết cần hiểu chính là làm đúng việc (Do right things).
Làm đúng việc rất quan trọng bởi nó sẽ đươc tổ chức đi đúng hướng. Làm đúng việc cho dù chưa phải với cách tốt nhất vẫn tốt hơn là làm không đúng việc cho dù nó được tiến hành với cách tốt nhất. Các tổ chức sẽ đạt được hiệu quả hơn khi các nhà quản trị chọn được mục tiêu đúng và hoàn thành chúng. Từ đây ta có khái niệm hiệu quả.
Hiệu quả chính là phép so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đúng đắn đã đặt ra. Hiệu quả = Kết quả đạt được/mục tiêu Tuy nhiên, nếu xác định được mục tiêu đúng và đạt được mục tiêu nhưng với chi phí quá cao, không chấp nhận được thì thực sự hiệu quả quản trị chưa có, điều này thường xảy ra khi ta làm việc chưa đúng cách hay hiệu suất chưa cao. Hiệu suất: Đo lường các nguồn lực được sử dụng tốt như thế nào để đạt đến một mục tiêu. Có thể hiểu đó chính là sự so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong quá trình thực hiện một mục tiêu nào đó.
Hiệu suất càng cao khi tỷ lệ giữa kết quả đạt được trên chi phí bỏ ra càng lớn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Hiệu suất = kết quả/chi phí Hiệu suất chỉ có được khi ta làm việc đúng cách, đúng phương pháp. Vì vậy cần chọn đúng cách thức tiến hành công việc. Khi đứng trước nhiều phương án, nhà quản trị phải so sánh lợi ích và chi phí của từng phương án, cân nhắc kỹ để chọn được cách giải quyết đạt được kết quả cao mà phí tổn là thấp nhất (Phan Thị Minh Châu và các công sự, 2011). Trong thực tế hoạt động quản trị có hiệu suất khi: (a) Giảm thiểu chi phí các nguồn lực ở đầu vào mà vẫn giữ nguyên sản lượng đầu ra, hoặc: (b) Giữ nguyên yếu tố đầu vào mà gia tăng sản lượng đầu ra, hoặc: (c) Vừa giảm được các chi phí đầu vào, vừa tăng sản phẩm đầu ra.
Từ đó đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong hoạt động kinh tế, nhất là trong một nền kinh tế thị trường có cạnh tranh người ta phải tìm cách hạn chế chi phí và gia tăng kết quả, tức là phải luôn luôn tìm cách tăng hiệu quả. Các hoạt động quản trị là cần thiết vì sẽ giúp gia tăng hiệu quả. Có thể nói rằng lý do tồn tại của quạt động quản trị chính là vì muốn có hiệu quả; và chỉ khi nào người ta quan tâm tới hiệu quả thì người ta mới quan tâm tới hoạt động quản trị (Nguyễn Thị Liên Diệp và công sự, 2012) 1.
Đo lường hiệu quả kinh doanh Quá trình đo lường hiệu quả kinh doanh bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu chính của doanh nghiệp. Lãnh đạo doanh nghiệp lập các kế hoạch để theo đuổi mục tiêu chiến lược đã xác định. Các mục tiêu chiến lược được xác định thông qua các trao đổi giữa lãnh đạo doanh nghiệp và các cổ đông, khi các mục tiêu chiến lược được xây dựng chúng sẽ giúp xác định mục tiêu bộ phận của doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 nghiệp được tốt hơn. Mục tiêu bộ phận cho thấy tầm quan trọng về mức độ đạt được của mục tiêu chiến lược.
Những mục tiêu bộ phận rất quan trọng vì chúng là những yếu tố mà các nhân viên của doanh nghiệp sử dụng để đánh giá và thúc đẩy thành công. Khi nhân viên theo dõi mức độ đạt được mục tiêu chínhvà mục tiêu bộ phận, họ có thể sử dụng dữ liệu kết quả đo lường để đem lại niềm tin cho họ về mối quan hệ giữa họ và tổ chức. Bước cuối cùng trong đo lường hiệu quả kinh doanh là tưởng thưởng cho kết quả đạt hiệu quả" – Atkinson(1998). "Một hệ thống đo lường hiệu quả kinh doanh liên quan đến việc sử dụng một tập hợp đo lường hiệu quả đa chiều cho việc lập kế hoạch và quản lý kinh doanh"(trang 4) Bourne và các cộng sự (2003).
"Một hệ thống đo lường hiệu quả chiến lược chuyển những chiến lược kinh doanh thành những kết quả. Kết hợp tài chính, các biện pháp chiến lược và hành động để đánh giá làm thế nào một công ty đạt được các mục tiêu"(trang 4) – Gate (1999). Thẻ điểm cân bằng là một tập hợp toàn diện các đo lường hiệu quả được xác định từ bốn quan điểm đo lường khác nhau (tài chính, khách hàng, nội bộ, và việc học tập và phát triển) cung cấp một khuôn khổ cho việc chuyển hóa chiến lược kinh doanh trong điều kiện hoạt động (Trang 55) - Kaplan và Norton(1996). Điều quan trọng là không có một mô hình nào là tối ưu cho mọi doanh nghiệp (Assen et al, 2009) mỗi doanh nghiệp phải tự điều chỉnh phù hợp.
Mục tiêu, vai trò của hệ thống đo lường hiệu quả kinh doanh Đo lường hiệu quả kinh doanh thể hiện rõ thành công hay không và được chia sẻ trong doanh nghiệp, khách hàng và các cổ đông. Nó cung cấp một công cụ để đánh giá, quản lý và cải thiện sức khỏe hệ thống kinh doanh. Trong hệ thống đo lường hiệu quả kinh doanh, vai trò cần thiết là việc sử dụng nó để "đo lường hiệu suất". Chúng ta chấp nhận điều này mặc dù thực tế một số nghiên cứu cho rằng giá trị quan trọng thu được từ quá trình thiết kế các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 phép đo lường hiệu quả không phụ thuộc vào việc thực hiện và giai đoạn thu thập dữ liệu (Neely và cộng sự.
Hệ thống đo lường hiệu quả kinh doanh có năm vai trò chính: (1) "Đo lường hiệu suất" bao gồm giám sát tiến độ và đo lường hiệu suất / đánh giá hiệu suất; (2) "Quản lý chiến lược" bao gồm vai trò của quy hoạch, chiến lược, xây dựng/thực hiện chiến lược và tập trung sự chú ý/cung cấp liên kết; (3) "Thông tin" trong đó bao gồm vai trò của thông tin liên lạc nội bộ và bên ngoài (4) "Ảnh hưởng lên hành vi" bổ sung hoặc điều tiết hành vi, quản lý các mối quan hệ và kiểm soát (5) "Học tập và cải tiến" cung cấp thông tin phản hồi, vòng lặp tuần hoàn của học tập và cải thiện hiệu suất. Mặc dù có nhiều mô hình quản trị chiến lược đa dạng và có ưu khuyết điểm khác nhau nhưng mô hình BSC vẫn được xem là một công cụ có nhiều ưu điểm phù hợp với quan điểm quản trị chiến lược hiện nay (Niven, 2006; Assen et al, 2009; Faltejskova and Dvorakova, 2013). Mô hình BSC thể hiện ở mặt đo lường cả ở chiều rộng và chiều sâu trong tổ chức. Về chiều sâu mô hình BSC đo lường từ cấp độ chiến lược tới các hoạt động.
Về chiều rộng BSC không giống các mô hình đo lường hiệu quả truyền thống khi nó đo lường toàn bộ các hoạt động trong tổ chức chứ không chỉ tập trung vào khía cạnh tài chính.