Luận văn thạc sĩ ueh hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ trên địa bạn tỉnh bình dương

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ trên địa bạn tỉnh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ kinh tế

2012

109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

1.2. Khái niệm về kiểm soát nội bộ

1.3. So sánh COSO 1992 và COSO 2004

1.4. Các nhân tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ

1.4.1. Môi trường kiểm soát

1.4.1.1. Tính trung thực, giá trị đạo đức và năng lực bảo đảm
1.4.1.2. Cam kết về năng lực
1.4.1.3. Hội đồng Quản trị và Uỷ ban Kiểm toán
1.4.1.4. Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
1.4.1.5. Cơ cấu tổ chức
1.4.1.6. Chính sách phân quyền trách nhiệm
1.4.1.7. Chính sách nhân sự

1.4.2. Thiết lập mục tiêu

1.4.3. Nhận dạng các sự kiện

1.4.4. Đánh giá rủi ro

1.4.5. Đối phó rủi ro

1.4.6. Hoạt động kiểm soát

1.4.6.1. Soát xét của cấp nhà quản lý cấp cao
1.4.6.2. Quản trị hoạt động
1.4.6.3. Phân chia trách nhiệm hợp lý
1.4.6.4. Kiểm soát vật chất
1.4.6.5. Phân tích rà soát

1.4.7. Thông tin và truyền thông

1.4.8. Mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ

1.4.9. Đánh giá kiểm soát nội bộ

1.5. Hạn chế của kiểm soát nội bộ

1.6. Doanh nghiệp Việt Nam và kiểm soát nội bộ đối với các doanh nghiệp gỗ

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

2.1. Hoạt động sản xuất của ngành gỗ trên địa bàn Tỉnh Bình Dương

2.1.1. Quy mô ngành

2.1.2. Đặc điểm sản xuất của ngành

2.1.3. Xu hướng phát triển

2.2. Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp gỗ trên địa bàn Tỉnh Bình Dương

2.2.1. Mục đích và phương pháp khảo sát

2.2.2. Thực trạng về môi trường kiểm soát

2.2.2.1. Tính chính trực và giá trị đạo đức
2.2.2.2. Cam kết về năng lực và chính sách nhân viên
2.2.2.3. Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ủy ban kiểm toán
2.2.2.4. Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
2.2.2.5. Cơ cấu tổ chức, phân định quyền hạn và trách nhiệm

2.2.3. Thực trạng về thiết lập mục tiêu

2.2.4. Thực trạng về nhận dạng các sự kiện

2.2.4.1. Những rủi ro bên ngoài của các doanh nghiệp sản xuất gỗ tại Tỉnh Bình Dương
2.2.4.2. Những rủi ro bên trong của doanh nghiệp gỗ tại Tỉnh Bình Dương

2.2.5. Thực trạng về đánh giá rủi ro

2.2.6. Thực trạng về đối phó rủi ro

2.2.7. Thực trạng về hoạt động kiểm soát

2.2.8. Thực trạng về thông tin và truyền thông

2.2.9. Thực trạng về hoạt động giám sát

2.3. Thực trạng kiểm soát nội bộ trong các chu trình chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất gỗ tại Tỉnh Bình Dương

2.3.1. Thực trạng kiểm soát chu trình mua hàng – trả tiền

2.3.1.1. Những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình mua hàng tại doanh nghiệp

2.3.2. Thực trạng kiểm soát chu trình bán hàng – thu tiền

2.3.2.1. Những rủi ro có thể xảy ra

2.4. Đánh giá chung những tồn tại của hệ thống KSNB đối với hoạt động của doanh nghiệp gỗ trên địa bàn Tỉnh Bình Dương

2.5. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

3.1. Mục tiêu và định hướng hoàn thiện

3.1.1. Phù hợp với quy mô

3.1.2. Thỏa mãn quy định của COSO 2004 về Quản trị rủi ro doanh nghiệp

3.1.3. Kế thừa và phát huy những nhân tố hợp lý của hệ thống hiện tại

3.1.4. Đảm bảo sự cân đối giữa chi phí và lợi ích

3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất gỗ tại Tỉnh Bình Dương

3.2.1. Giải pháp về các bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB

3.2.1.1. Giải pháp về môi trường kiểm soát
3.2.1.2. Giải pháp về thiết lập mục tiêu
3.2.1.3. Giải pháp về nhận dạng các sự kiện
3.2.1.4. Giải pháp về đánh giá rủi ro
3.2.1.5. Giải pháp về đối phó với rủi ro
3.2.1.6. Giải pháp về nâng cao hoạt động kiểm soát
3.2.1.6.1. Phân chia trách nhiệm
3.2.1.6.2. Kiểm soát tốt quá trình xử lý thông tin
3.2.1.6.3. Kiểm soát quy trình mua hàng – nợ phải trả
3.2.1.6.4. Kiểm soát quy trình bán hàng – thu tiền
3.2.1.7. Giải pháp đối với thông tin và truyền thông
3.2.1.8. Giải pháp nâng cao hoạt động giám sát

3.3. Một số hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

3.4. Các giải pháp đối với doanh nghiệp

3.5. Các giải pháp hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước

3.6. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp chế biến gỗ

Hệ thống kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài sản của doanh nghiệp chế biến gỗ. Tại Bình Dương, ngành chế biến gỗ đang phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Việc hoàn thiện hệ thống này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố cấu thành và tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngành chế biến gỗ.

1.1. Khái niệm và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ được định nghĩa là các biện pháp và quy trình nhằm bảo vệ tài sản và đảm bảo tính chính xác của thông tin tài chính. Nó giúp doanh nghiệp chế biến gỗ quản lý rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.2. Lịch sử phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những năm đầu thế kỷ 20 đến nay. Sự ra đời của báo cáo COSO 1992 đã định hình lại cách thức quản lý và đánh giá hệ thống này.

II. Vấn đề và thách thức trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp chế biến gỗ

Doanh nghiệp chế biến gỗ tại Bình Dương đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ. Những rủi ro từ môi trường kinh doanh, sự thiếu hụt nguồn lực và quản lý chưa hiệu quả là những vấn đề cần được giải quyết. Việc nhận diện và đánh giá các rủi ro này là rất quan trọng để cải thiện hệ thống kiểm soát.

2.1. Các rủi ro chính trong doanh nghiệp chế biến gỗ

Các rủi ro trong doanh nghiệp chế biến gỗ bao gồm rủi ro tài chính, rủi ro về chất lượng sản phẩm và rủi ro từ môi trường kinh doanh. Những rủi ro này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh.

2.2. Hạn chế trong việc thực hiện kiểm soát nội bộ

Nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ chưa xây dựng được hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả. Việc thiếu hụt nguồn lực và sự không đồng bộ trong quản lý là những hạn chế lớn trong việc thực hiện kiểm soát nội bộ.

III. Phương pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp chế biến gỗ

Để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, doanh nghiệp cần áp dụng các phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc cải tiến quy trình kiểm soát, nâng cao năng lực nhân sự và áp dụng công nghệ thông tin là những yếu tố quan trọng. Các giải pháp này sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.

3.1. Cải tiến quy trình kiểm soát nội bộ

Cải tiến quy trình kiểm soát nội bộ bao gồm việc xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận. Điều này giúp nâng cao tính hiệu quả và giảm thiểu sai sót trong quá trình kiểm soát.

3.2. Nâng cao năng lực nhân sự trong kiểm soát nội bộ

Đào tạo và nâng cao năng lực cho nhân viên là rất cần thiết. Nhân viên có kiến thức và kỹ năng sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện kiểm soát nội bộ hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng việc áp dụng hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đã giúp nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ tại Bình Dương giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất. Các kết quả từ khảo sát cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong quản lý tài chính và chất lượng sản phẩm.

4.1. Kết quả khảo sát về hệ thống kiểm soát nội bộ

Kết quả khảo sát cho thấy rằng các doanh nghiệp áp dụng hệ thống kiểm soát nội bộ đã giảm thiểu được các rủi ro tài chính và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ.

4.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát nội bộ

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống kiểm soát nội bộ đã giúp doanh nghiệp chế biến gỗ tối ưu hóa quy trình và nâng cao hiệu quả quản lý. Công nghệ thông tin hỗ trợ trong việc theo dõi và đánh giá các hoạt động kiểm soát.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của hệ thống kiểm soát nội bộ

Việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp chế biến gỗ là một quá trình liên tục. Doanh nghiệp cần thường xuyên đánh giá và cải tiến hệ thống để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Hướng phát triển tương lai sẽ tập trung vào việc áp dụng công nghệ mới và nâng cao năng lực quản lý.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải tiến liên tục

Cải tiến liên tục hệ thống kiểm soát nội bộ là cần thiết để doanh nghiệp có thể thích ứng với những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Điều này giúp doanh nghiệp duy trì tính cạnh tranh và phát triển bền vững.

5.2. Hướng phát triển công nghệ trong kiểm soát nội bộ

Công nghệ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. Doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ thông tin để tối ưu hóa quy trình và quản lý rủi ro hiệu quả hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ trên địa bạn tỉnh bình dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn Tỉnh Bình Dương. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn Tỉnh Bình Dương. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển :  Giai đoạn tiền COSO ( Từ năm 1992 trở về trƣớc ) Mọi hoạt động kinh tế đều cần nguồn vốn. Các kênh cung cấp vốn đã hình thành và ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu.

Để có thể cung cấp vốn, ngân hàng cần có bức tranh về tình hình tài chính có thể tin cậy được, mà khởi điểm là Bảng cân đối kế toán. Muốn vậy, cần có những người có năng lực, độc lập đảm nhiệm chức năng xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính, từ đó có sự ra đời của các công ty kiểm toán. Khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính, các kiểm toán viên đã sớm nhận thức rằng không cần thiết phải kiểm tra tất cả nghiệp vụ phát sinh mà chỉ chọn mẫu để kiểm tra và dựa vào sự tin tưởng của hệ thống KSNB do đơn vị được kiểm toán sử dụng trong việc xử lý, tập hợp các thông tin để lập báo cáo tài chính (BCTC). Vì vậy các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến KSNB.

Khái niệm KSNB bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu về kiểm toán với một ý nghĩa rất đơn giản: các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị nhân viên biển thủ. Năm 1929, thuật ngữ KSNB được đề cập chính thức trong một Công bố của Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), theo đó kiểm soát nội bộ được định nghĩa là công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hoạt động, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Năm 1936, trong một công bố, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA – American Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa KSNB “…là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách.” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề:” Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập.Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là: “….cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý.” Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB. - Trước hết, vào năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP- Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 ( SAP- Statement Auditing Procedure) về: “ Phạm vi xem xét KSNB của kiểm toán viên độc lập”, trong đó lần đầu tiên phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán, và đã đưa ra định nghĩa như sau: a.

Kiểm soát nội bộ về kế toán: bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên hệ trực tiếp đến việc bảo vệ tài sản và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán. Chúng thường bao gồm các thủ tục kiểm soát như hệ thống xét duyệt và phê chuẩn, tách biệt nhiệm vụ giữ sổ sách và lập báo cáo với bảo quản tài sản, kiểm soát vật chất với tài sản và kiểm toán nội bộ. Kiểm soát nội bộ về quản lý: bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên quan chủ yếu đến tính hữu hiệu trong hoạt động và sự tuân thủ chính sách quản trị. Chúng thường chỉ liên quan gián tiếp đến thông tin tài chính, bao gồm các hoạt động kiểm soát như phân tích thống kê, nghiên cứu về thời gian và động cơ, báo cáo về tính hiệu quả, chương trình huấn luyện nhân viên và kiểm soát chất lượng.

- Đến năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP33 (1962), đã làm rõ hơn về vấn đề này như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Kiểm toán viên độc lập trước hết sẽ quan tâm đến kiểm soát nội bộ về kế toán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thông tin tài chính và do vậy kiểm toán viên cần đánh giá KSNB đối với vấn đề này. - Đến 1972, CPA tiếp tục ban hành SAP54 (1972) “ Tìm hiểu và đánh giá KSNB” trong đó đưa ra bốn thủ tục kiểm soát kế toán, đó là đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê. * Sự ra đời của Báo cáo COSO ( năm 1992) Nguyên nhân dẫn đến việc thành lập Ủy ban COSO là: - Vào những thập niên 1970 – 1980, nền kinh tế của Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác đã phát triển mạnh mẽ. Số lương của các công ty tăng nhanh, kể cả các công ty thuộc quyền sở hữu của nhà nước và kinh doanh quốc tế.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các vụ gian lận cũng ngày càng tăng, với quy mô ngày càng lớn, gây ra tổn thất đáng kể cho nền kinh tế. Trong quá trình điều tra vụ tai tiếng chính trị Watergate, Quốc hội Hoa Kỳ đã phát hiện rất nhiều các hoạt động vận động tranh cử trái phép và rửa tiền liên quan đến nước ngoài. Vào năm 1977, luật về chống hối lộ nước ngoài (Foreign Corrupt practices act) ra đời. Sau đó, SEC đưa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình (1979).

Yêu cầu về báo cáo KSNB của công ty cho công chúng là một chủ đề gây nhiều tranh luận. - COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên BCTC, thường gọi là Ủy ban Treadway. Báo cáo về các quan sát và khuyến nghị của Ủy ban Treadway đã lưu ý rằng có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau liên quan kiểm soát nội bộ, do vậy cần có một tổ chức để nghiên cứu về kiểm soát nội bộ nhằm thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau, đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 có thể xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và đưa ra hướng dẫn nhằm giảm đi sự khác biệt về quan điểm. - Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp, mỗi tổ chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Ủy ban COSO.

Năm tổ chức đó là: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ ( AAA – American Accounting Association), Hiệp hội Quản trị viên tài chính ( FEI – Financial Executives Institute), Hiệp hội Kế toán viên quản trị ( IMA – Institute of Management Accountants), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ ( IIA – Institute of Internal Auditors) Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo năm 1992. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. COSO đã định nghĩa đầy đủ về KSNB và dùng từ Kiểm soát nội bộ thay vì KSNB về kế toán. Báo cáo COSO đưa ra năm bộ phận của KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.

- Cấu trúc của Báo cáo COSO (1992): gồm bốn phần, đó là: Phần 1: Tóm tắt dành cho ngƣời điều hành: cung cấp cái nhìn tổng quát về KSNB ở mức độ cao dành riêng cho các nhà quản lý cao cấp và giám đốc điều hành, và các cơ quan quản lý nhà nước. Phần 2: Khuôn mẫu của KSNB: là nội dung cơ bản của báo cáo COSO, trong đó định nghĩa về KSNB và các tiêu chuẩn để giúp Ban giám đốc, nhà quản lý và các đối tượng khác nghiên cứu để thiết kế, vận hành hay để đánh giá hệ thống KSNB. Phần 3: Báo cáo cho đối tượng bên ngoài: là tài liệu bổ sung nhằm hướng dẫn cho các tổ chức cần báo cáo về KSNB cho bên ngoài. Phần 4: Công cụ đánh giá hệ thống KSNB: đưa ra các hướng dẫn, gợi ý thiết thực cho việc đánh giá hệ thống KSNB.

Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến BCTC mà được mở rộng ra cho cả các phương diện hoạt động và tuân thủ.  Giai đoạn hậu COSO ( từ năm 1992 đến nay): Sau khi báo cáo COSO 1992 được phát hành thì tiếp đó hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời. COSO phát triển về quản trị, về doanh nghiệp nhỏ (2006), về công nghệ thông tin, kiểm toán độc lập, chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể và giám sát (2008), cụ thể: Phát triển về phía quản trị : Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM – Enterprise Risk Management Framework) trên cơ sở Báo cáo COSO 1992.

Đến 2004, ERM đã được chính thức ban hành.ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ