phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 5 chương: Chƣơng 1: Công tác quản lý thuế tại CCTQ11: Giới thiệu khái quát đặc điểm CCTQ11, giới thiệu các hoạt động của CCTQ11 gắn với HTKSNB đang áp dụng tại đơn vị. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về HTKSNB trong công tác quản lý thuế: Trình bày cơ sở lý luận về HTKSNB, các nhân tố tác động đến HTKSNB trong công tác quản lý thuế. Chƣơng 3: Thực trạng về HTKSNB tại CCTQ11: Mô tả chi tiết quá trình vận dụng HTKSNB tại CCTQ11. Chƣơng 4: Phƣơng pháp nghiên cứu và kiểm chứng tác động của HTKSNB đến hiệu quả công tác quản lý thuế của CCTQ11: Trình bày phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và phân tích kết quả nghiên cứu để kiểm định ảnh hưởng của các nhân tố của HTKSNB đến hiệu quả công tác quản lý thuế của CCTQ11.
Chƣơng 5: Các giải pháp hoàn thiện HTKSNB tại CCTQ11: Phân tích những trở ngại trong quá trình vận dụng HTKSNB tại CCTQ11, từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện HTKSNB tại CCTQ11. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 11 1. Công tác quản lý thuế của ngành thuế 1. Cơ sở lý luận công tác quản lý thuế 1.
Khái niệm thuế Cho đến thời điểm hiện nay, khái niệm về thuế đã được nêu ra trong khá nhiều các sách báo trên thế giới nhưng vẫn chưa có khái niệm thống nhất tuyệt đối. Theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì định nghĩa rằng: “Thuế là nguồn thu chủ yếu của NNT. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế”.
Hai nhà kinh tế Mỹ là K.Bryu đã nêu một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn chỉnh trong cuốn “Economics” như sau: “Thuế là khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa dịch vụ) của các Công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà là Tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”. Đặc điểm của thuế Thuế có hai đặc điểm chính sau: - Thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc. Tính bắt buộc là bởi vì không có người dân nào tự nguyện trả các dịch vụ công mà họ nhận được, nên Nhà nước phải dùng quyền lực để nhân dân nộp thuế đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu công. - Thuế là một khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Có nghĩa là số tiền thuế người dân đóng góp không phải đòi hỏi Nhà nước phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu nhưng được xem là một khoản Nhà nước vay mượn và sẽ hoàn trả qua các việc đầu tư và cung cấp hàng hóa công, vì vậy người dân có quyền ý kiến nếu số thuế đóng quá cao trong khi lợi ích nhận được từ dịch vụ công lại quá thấp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chức năng của thuế - Đảm bảo nguồn thu cho NSNN: là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước bù đắp cho các khoản chi ngân sách. - Tạo sự công bằng trong phân phối thu nhập và ổn định xã hội: sự công bằng thể hiện qua việc phân chia nghĩa vụ thuế dựa trên mức thu nhập của NNT, tuy nhiên sự công bằng này chỉ đảm bảo ở mức tương đối.
- Điều tiết nền kinh tế vĩ mô: khắc phục những bất cập của thị trường nhằm thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân. Công tác quản lý thuế Khái niệm quản lý thuế Quản lý thuế là hoạt động của cơ quan thuế các cấp dựa trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động quản lý thuế của Nhà nước. Theo Điều 4 Luật quản lý thuế 2019 ngày 13 tháng 6 năm 2019, công tác quản lý thuế bao gồm những nội dung sau: - Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế. - Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế.
- Khoanh tiền thuế nợ; xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp, tiền phạt; không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ. - Quản lý thông tin người nộp thuế. - Quản lý hóa đơn, chứng từ. - Kiểm tra thuế, thanh tra thuế và thực hiện biện pháp phòng, chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế.
- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế. - Xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế. - Hợp tác quốc tế về thuế.
- Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Như đã trình bày ở phần trên, một trong những chức năng quan trọng nhất của thuế là đảm bảo nguồn thu NSNN. Vì vậy, hiệu quả quản lý đối tượng nộp thuế, quản lý thu thuế là những chỉ tiêu luôn được Bộ Tài chính quan tâm hướng đến, thông qua các văn bản pháp luật điều chỉnh các chính sách về các loại thuế và các khoản thu khác sao cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngoài ra, hàng năm, Bộ Tài chính đều phát động thi đua dựa trên các chỉ tiêu về số nợ còn tồn đọng, số thu NSNN mỗi đơn vị đạt được.
Vì vậy, trong bài nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ phân tích những chỉ tiêu này khi nghiên cứu về hiệu quả công tác quản lý thuế. Công tác quản lý thuế đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng kết quả thu NSNN. Trong quá trình quản lý thuế sẽ luôn gặp phải những thuận lợi cũng như khó khăn nhất định. Một trong những khó khăn luôn tồn tại đó là vấn đề thất thu thuế.
Thất thu thuế được hiểu là những biểu hiện khi những khoản tiền được tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh của NNT cần phải nộp vào NSNN, nhưng vì những lý do khách quan và chủ quan mà các khoản tiền này không được nộp vào NSNN. Bao gồm các lý do cụ thể sau: - Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của các doanh nghiệp khi kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận. Để làm được điều này, các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để tăng doanh thu, giảm chi phí và nhất là giảm được những khoản chi phí phải bỏ ra để nộp vào NSNN. Để cụ thể hoá, họ tìm đến các hành vi trốn thế, gian lận số tiền thuế, hoặc chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước, gây thất thu lớn cho NSNN.
- Trình độ quản lý, bộ máy tổ chức, trình độ chuyên môn của công chức thuế còn yếu kém, không hiệu quả, dẫn đến việc không phát hiện ra những sai sót, gian lận của NNT. Hay vì chính sách thuế sửa đổi liên tục, còn nhiều những sơ hở làm cho NNT hiểu sai hay cố tình hiểu sai, tìm đủ mọi cách để trốn thuế. Hoặc cũng vì lợi ích của cá nhân mà công chức thuế thông đồng với NNT nhằm giảm số thuế phải nộp, dẫn đến thất thu thuế, thất thoát nguồn thu vào NSNN và gây hậu quả nghiêm trọng đến lợi ích chung của đơn vị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp (cụ thể như công an kinh tế, quản lý thị trường, bảo hiểm.) chưa tạo điều kiện thuận lợi, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế các cấp trong công tác quản lý thuế.
Vì vậy, công tác chống thất thu thuế là một vấn đề quan trọng không những của Việt Nam mà còn của các quốc gia khác trên thế giới. Mặc dù ngành thuế ngày càng có nhiều nỗ lực, nhưng các biện pháp chống thất thu thuế dường như chưa hiệu quả, dường như mới chỉ thu được thuế của các đơn vị và công dân gương mẫu trong nghĩa vụ thuế, vẫn chưa có các biện pháp chế tài cụ thể đối với những người cố tình trốn thuế. Vai trò của công tác quản lý thuế Công tác quản lý thuế là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trong đó các cơ quan quản lý thuế có nhiệm vụ quan trọng nhất. Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế không những đảm bảo sự vận hành trơn tru, xuyên suốt hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, mà còn có tác động tích cực tới hiệu quả công tác chống thất thu thuế.
Vai trò chính trong công tác quản lý thuế bao gồm: - Công tác quản lý thuế có vai trò cực kì quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung thường xuyên, kịp thời và chính xác vào NSNN. - Thông qua hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách thuế cũng như các quy định về quản lý thuế. - Thông qua công tác quản lý thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết và kiểm soát các hoạt động kinh tế trong xã hội. Nguyên tắc của công tác quản lý thuế Công tác quản lý thuế phải tuân theo những nguyên tắc nhất định sau đây (theo quy định tại điều 4 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006): - Tuân thủ pháp luật - Đảm bảo tính hiệu quả - Thúc đẩy ý thức tự tuân thủ của NNT cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NNT - Công khai, minh bạch, bình đẳng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế 1.
Tổng quan về cơ quan thuế và ngành thuế 1. Khái niệm về cơ quan thuế và tổ chức bộ máy ngành thuế Cơ quan thuế là đơn vị ngành dọc, trực thuộc Bộ Tài Chính, hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất trong toàn ngành, sử dụng các kinh phí được NSNN cấp để hoạt động trong lĩnh vực quản lý thuế. Theo quy định tại điều 2, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì ”Cơ quan thuế gồm Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế”, thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước đối với các khoản thu nội địa bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc NSNN.