Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung Đề tài gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ & Kinh doanh Vật liệu Xây dựng FICO. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ & Kinh doanh Vật liệu Xây dựng FICO. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái quát về kiểm soát nội bộ: 1.
Lịch sử hình thành và phát triển kiểm soát nội bộ: Giai đoạn sơ khai: Vào những năm cuối thế kỷ 19, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển mạnh mẽ, quyền sở hữu của các cổ đông tách rời chức năng điều hành của những nhà quản lý, các kênh cung cấp vốn cũng phát triển kịp thời để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô của các doanh nghiệp. Các công ty kiểm toán độc lập ra đời nhằm đảm bảo tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC), là cơ sở để các kênh cung cấp vốn có cái nhìn tổng quan tình hình tài chính của doanh nghiệp. Khi thực hiện các kỹ thuật lấy mẫu, các kiểm toán viên nhận thấy cần phải quan tâm đến kiểm soát nội bộ (KSNB). Thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này.
Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền. Đến năm 1905, Robert Montgomery1 đƣa ra ý kiển về KSNB trong “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”. Năm 1929, Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), lần đầu tiên đề cập chính thức thuật ngữ “kiểm soát nội bộ”. Đến năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) trong một công bố cũng đƣa ra định nghĩa KSNB.
Đặc biệt là sau những vụ sụp đổ của các công ty lớn có cổ phiếu đƣợc niêm yết nhƣ McKenson & Robbins, Drayer Hanson.mà Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) chỉ trích các công ty kiểm toán đã không xem xét đúng mức hệ thống KSNB, thì việc nghiên cứu và đánh giá về KSNB ngày càng đƣợc chú trọng. Giai đoạn hình thành: Vào thập niên những năm 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán tại Hoa Kỳ đã cho ra đời khá nhiều các báo cáo, hƣớng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong công tác kiểm toán. 1 Sáng lập viên công ty kiểm toán Lybrand, Ross Bros & Montgomery. 2 Tham khảo “Đạo luật Sarbans-Oxley”, nguồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Trong số đó, vào năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB là: “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”.
Sau đó, AICPA cũng đã soạn thảo và lần lƣợt ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB nhƣ SAP 29, SAP 33, SAP 54 (sau này đƣợc thay thế bằng các chuẩn mực SAS). Trong suốt thời kỳ này, khái niệm KSNB tuy không ngừng đƣợc mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, KSNB vẫn chỉ dừng lại nhƣ là một phƣơng tiện phục vụ cho việc kiểm toán BCTC. Giai đoạn phát triển: Vào những thập niên 1970 – 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác phát triển mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, các vụ gian lận cũng tăng nhanh đáng kể với quy mô ngày càng lớn. Năm 1979, SEC bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình, vì vậy cần phải có các tiêu chuẩn để đánh giá tính hữu hiệu của KSNB. Từ đó đƣa đến việc thành lập COSO (1985), COSO là một Ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên BCTC, thƣờng gọi là Ủy ban Treadway. COSO đƣợc bảo trợ bởi năm tổ chức nghề nghiệp, mỗi tổ chức chỉ định một đại diện để lập ra COSO.
Các tổ chức gồm: Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA- American Accounting Association), Hiệp hội Quản trị viên Tài chính (FEI- Financial Excutives Institute), Hiệp hội Kế toán viên Quản trị (IMA- Institute of Managament Accountants) và Hiệp hội Kiểm toán viên Nội bộ (IIA- Institute of Internal Auditors). Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO phát hành Báo cáo, đây cũng là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đƣa ra Khuôn mẫu lý thuyết về KSNB đầy đủ và có hệ thống nhất cho đến thời điểm hiện nay. Giai đoạn hiện đại (từ 1992 đến nay) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Sau Báo cáo COSO 1992, hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời. Phát triển về phía quản trị: Năm 2004, COSO chính thức ban hành Báo cáo COSO 2004 (ERM) trên cơ sở Báo cáo COSO 1992.
Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ:Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hƣớng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính- Hƣớng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ”. Phát triển theo hướng công nghệ thông tin:Năm 1996, Bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan” (CoBIT- Control Objectives for Information and Related Technology) do Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA- Information System Audit and Control Association) ban hành. Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập:Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB, bao gồm: SAS 78 (1995), SAS 94 (2001) Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA- International Standard on Auditing) cũng sử dụng Báo cáo COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC, nhƣ là: ISA 315, ISA 265. Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ:Các chuẩn mực của IIA không đi sâu vào nghiên cứu các thành phần của KSNB, vì IIA là một thành viên của COSO nên về nguyên tắc không có sự khác biệt giữa định nghĩa của IIA và COSO.
Phát triển theo hướng nghề nghiệp chuyên sâu: Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS- Basel Committee on Banking Supervision) đã đƣa ra công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng. Nhận xét về sự phát triển lý luận của hệ thống kiểm soát nội bộ: Từ những khái niệm ban đầu đƣợc các kiểm toán viên độc lập quan tâm, đến việc phát triển thành những nguyên tắc đơn giản cho công tác kiểm toán, phát triển thành công cụ kiểm toán, và trở thành những quy định bắt buộc, phát triển thành nhiều phân nhánh khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của các hoạt động, các tổ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tầm quan trọng của lý luận về hệ thống KSNB thực sự đƣợc đánh giá cao khi có đạo luật Sarbans- Oxley Trƣớc khi có đạo luật Sarbans-Oxley, việc xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác kiểm toán chỉ nhằm giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán, hay xem xét kiểm soát nội bộ chỉ là một công cụ cho việc lập kế hoạch kiểm toán. Sau hàng loạt những vụ sụp đổ của các công ty lớn, đạo luật Sarbanes-Oxley đƣợc Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đây là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.
Trong sáu điểm quan trọng của đạo luật này, có điểm nổi bật đó là qui định hàng năm, các công ty phải có báo cáo kiểm soát nội bộ, trong đó các thông tin về tình hình tài chính của công ty phải có sự chứng thực của công ty kiểm toán (trong quy định 404 của đạo luật). Để thực hiện điều khoản này, ƣớc tính với khoảng 1000 công ty lớn đang niêm yết ở Mỹ hàng năm phải trả khoản phí lên đến 6 tỷ USD 2 hay tăng 25% so với phí kiểm toán lúc đó. Và cũng vì vậy, điều khoản này đã khiến cho không những chi phí kiểm toán gia tăng đáng kể mà còn làm gia tăng trách nhiệm của kiểm toán viên, buộc nhà quản lí phải tăng cƣờng sự hiểu biết và sự quan tâm của họ đối với hệ thống kiểm soát nội bộ, buộc họ có trách nhiệm hơn với kiểm soát nội bộ trong công ty. Với điều khoản này thì kiểm soát nội bộ đã trở thành mục tiêu kiểm toán.
Điều khoản này còn là cái “ngƣỡng” để loại bớt những công ty niêm yết nhỏ ra khỏi danh sách các công ty niêm yết hay cản bớt các công ty có qui mô nhỏ muốn niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán vì các công ty này không đủ nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu về kiểm soát nội bộ, cũng nhƣ không gánh đƣợc chi phí kiểm toán chứng thực báo cáo kiểm soát. Do đó, nhiều ý kiến đồng tình rằng điều khoản này nhằm bảo vệ nhà đầu tƣ. Sự phát triển lý luận của hệ thống KSNB ở Việt Nam: Nhìn chung, hệ thống lý luận về KSNB ở Việt Nam gắn liền với sự ra đời và phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập của Việt Nam trong thời gian qua. 2 Tham khảo “Đạo luật Sarbans-Oxley”, nguồn http://vi.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_lu%E1%BA%ADt_Sarbanes-Oxley TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Thời kỳ nền kinh tế nƣớc ta chuyển từ kinh tế bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần bắt đầu thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài cũng nhƣ việc hình thành và phát triển của các kênh cung cấp vốn ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán mới đƣợc chú trọng.
Chính nhu cầu minh bạch thông tin, đặc biệt là của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, đã tạo nên nhu cầu về loại hình kiểm toán độc lập BCTC. Tháng 5/1991, công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam thành lập (VACO) đánh dấu cho ngành nghề kiểm toán ở nƣớc ta. Tiếp sau là sự thành lập của nhiều công ty kiểm toán khác với các loại hình doanh nghiệp nhƣ các công ty hợp danh, công ty liên doanh, các công ty kiểm toán quốc tế… Hàng loạt các cơ quan, qui chế, chuẩn mực.liên quan đến nghề kiểm toán ra đời nhƣ: - Tháng 1/1994, Chính phủ ban hành Quy chế kiểm toán độc lập. - Tháng 7/1994, Cơ quan kiểm toán Nhà nƣớc trực thuộc chính phủ đƣợc thành lập.
- Tháng 10/1994, Bộ tài chính ban hành 4 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) đầu tiên. Sau đó, lần lƣợt các năm 2000, 2001, 2003, 2005 Bộ tài chính ban hành thêm các chuẩn mực, hiện nay có 7 đợt ban hành các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.