Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế "Hoàn thiện hệ thống kế toán nhà nước" được nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hồng thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành năm 2007. Công trình thuộc chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, tiếp cận theo hướng định tính, tập trung phân tích thể chế, so sánh kinh nghiệm quốc tế và khảo sát thực trạng quy định kế toán công tại Việt Nam nhằm đề xuất giải pháp cải cách mang tính hệ thống.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực trạng quản lý tài chính công tại Việt Nam: khu vực công tồn tại song song nhiều chế độ kế toán riêng biệt cho từng khối đơn vị, bao gồm Chế độ kế toán ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước, kế toán hành chính sự nghiệp, kế toán ngân sách và tài chính xã, kế toán tài sản dự trữ quốc gia, kế toán bảo hiểm xã hội, kế toán nghiệp vụ thi hành án, kế toán đơn vị chủ đầu tư, kế toán sự nghiệp áp dụng cho đơn vị ngoài công lập, kế toán áp dụng cho đơn vị Công đoàn, và kế toán áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc cơ quan Đảng. Nhà nước là một chủ thể thống nhất nhưng hệ thống tài khoản và kỹ thuật kế toán tại các cơ quan thu, chi và đơn vị thụ hưởng lại phân tán, không đồng nhất. Các tài khoản chủ yếu được thiết kế theo niên độ ngân sách thay vì bản chất kinh tế, gây chia cắt thông tin và trùng lặp trong xử lý số liệu. Chế độ kế toán hiện hành vận hành thuần túy trên cơ sở tiền mặt và kiểm soát đầu vào (định mức, biên chế), chưa theo dõi được chi phí đầu ra, chưa ghi nhận kịp thời nợ tiềm ẩn và dự chi, làm giảm tính bền vững của ngân sách. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ thông tin qua Dự án Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS) đòi hỏi phải có một hệ thống tài khoản kế toán nhà nước thống nhất.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được tác giả xác định nhằm giải quyết bất cập của hệ thống hiện hành, đáp ứng yêu cầu của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002, Luật Kế toán năm 2003 và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (WTO, IMF, Ngân hàng Thế giới), hướng tới 03 mục tiêu căn bản:

  1. Cung cấp thông tin tài chính cần thiết, kịp thời một cách tập trung, thống nhất, tin cậy phục vụ việc ra quyết định quản lý vĩ mô của Nhà nước, đảm bảo thực hiện hiệu quả chính sách kinh tế - tài chính.
  2. Trở thành công cụ thông tin hiệu quả giúp các nhà quản lý nắm được tình hình tài chính thực tế tại từng đơn vị kế toán, hỗ trợ nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính.
  3. Hội nhập kế toán nhà nước Việt Nam với khu vực và quốc tế thông qua việc tiếp cận các chuẩn mực kế toán công.

Về câu hỏi nghiên cứu, luận án giải quyết vấn đề trọng tâm: Làm thế nào để thiết lập một mô hình kế toán nhà nước thống nhất tại Việt Nam, dung hòa giữa yêu cầu ghi chép ngân quỹ trên cơ sở tiền mặt với việc ghi nhận tài sản, công nợ trên cơ sở dồn tích, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính và hiện đại hóa công nghệ thông tin?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những nguyên tắc, định hướng thống nhất hệ thống thông tin quản lý, bộ máy quản lý tài chính nhà nước, các quy định kế toán nhà nước theo thông lệ quốc tế và kế toán doanh nghiệp, cùng các chế độ kế toán nhà nước hiện hành tại Việt Nam (kế toán Kho bạc Nhà nước, kế toán hành chính sự nghiệp, kế toán xã, kế toán dự trữ, bảo hiểm xã hội...). Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian bao quát các cơ quan quản lý tài chính (Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Thuế, Hải quan) và các đơn vị sử dụng ngân sách, quỹ tài chính nhà nước. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là từ khi có Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 và Luật Kế toán năm 2003 cho đến năm 2007.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong quá trình xây dựng cơ sở lập luận, tác giả Nguyễn Văn Hồng đã tổng quan và viện dẫn các nhóm công trình khoa học, tài liệu thể chế và báo cáo chuyên ngành:

  • Tài liệu quốc tế: Hướng dẫn và quan điểm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về định nghĩa kế toán nhà nước và phân định hệ thống thông tin tài chính với thông tin ngân sách; các Chuẩn mực Kế toán Nhà nước Quốc tế (IPSAS) do Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) ban hành; các chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế của Viện Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) và Ủy ban Nguyên tắc Kế toán Hoa Kỳ (APB - Thông báo số 4); các văn bản pháp lý về kế toán công của Cộng hòa Pháp (Luật Ngân sách Nhà nước năm 1959 của Pháp).
  • Tài liệu trong nước: Công trình nghiên cứu "Tổng kế toán nhà nước ở Việt Nam - Mô hình và 3 giai đoạn hình thành (đến năm 2010)", Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, tháng 6/2004; Giáo trình "Kế toán tài chính nhà nước" của Trường Đại học Tài chính - Kế toán (nay là Học viện Tài chính); các báo cáo và tài liệu từ Dự án VIE/02/008 của Văn phòng Quốc hội; tài liệu dự án "Hệ thống thông tin quản lý tài chính tích hợp" (IFMIS) và "Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc" (TABMIS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ; hệ thống 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành theo Quyết định số 38/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Trước năm 2007, phần lớn các nghiên cứu trong nước chỉ tiếp cận kế toán khu vực công theo từng mảng nghiệp vụ riêng lẻ (hoặc chỉ nghiên cứu kế toán ngân sách tại Kho bạc, hoặc chỉ nghiên cứu kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp). Chưa có công trình nào giải quyết toàn diện mối quan hệ hữu cơ giữa thông tin tài chính (phản ánh tài sản có, tài sản nợ, chi phí, kết quả) và thông tin ngân sách (chấp hành dự toán thu, chi); đồng thời chưa xây dựng được khung kỹ thuật cụ thể (hệ thống tài khoản, chứng từ, sổ, báo cáo) nhằm hợp nhất các chế độ kế toán công độc lập thành một hệ thống kế toán nhà nước duy nhất gắn với lộ trình ứng dụng công nghệ thông tin tập trung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên lý luận tổng thể về kế toán và kế toán công, xác định kế toán nhà nước là công cụ ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin số liệu về hoạt động tài chính của ngân sách nhà nước, nợ nhà nước, các quỹ tài chính và tài sản nhà nước bằng hệ thống phương pháp chứng từ, tài khoản, tính giá, tổng hợp - cân đối.

Tác giả hệ thống hóa các nguyên tắc kế toán áp dụng trong khu vực công thành hai nhóm:

  • Nguyên tắc chung: Nguyên tắc thực thể/đơn vị kế toán, thước đo tiền tệ, hoạt động liên tục, kỳ kế toán, giá phí (nguyên giá), và nguyên tắc khách quan.
  • Nguyên tắc đặc thù của kế toán nhà nước:
    1. Nguyên tắc tách rời người ra lệnh và người làm kế toán (nguyên tắc bất kiêm nhiệm): Tách bạch trách nhiệm giữa người ra lệnh thu/lệnh chi (thẩm quyền hành chính, quyết định tính hợp thời) và công chức kế toán/thủ quỹ (quản lý công quỹ, kiểm soát tính hợp thức của chứng từ).
    2. Nguyên tắc phân biệt giữa hợp thời và hợp thức: Người ra lệnh chịu trách nhiệm về tính cần thiết và hiệu quả thực tế của nghiệp vụ; người làm kế toán kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ trên chứng từ theo quy chế kế toán.
    3. Nguyên tắc không phân bổ thu và chi: Mọi khoản thu và chi phải hạch toán theo hai khối riêng biệt; toàn bộ số thu dùng để tài trợ chung cho toàn bộ số chi, không dành riêng một khoản thu cụ thể cho một khoản chi cụ thể.

Về cơ sở kế toán, luận án phân tích ba phương pháp: cơ sở tiền mặt (Cash basis), cơ sở dồn tích (Accrual basis) và cơ sở tiền mặt điều chỉnh (Modified cash basis). Về mô hình tổ chức bộ máy, luận án phân tích hai mô hình chủ đạo trên thế giới:

  • Mô hình kế toán phân tán: Áp dụng ở các quốc gia như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada, Úc. Quyền tự chủ kế toán được phân cấp cho các bộ ngành hoặc "trung tâm ra quyết định", Bộ Tài chính chỉ đóng vai trò tập hợp báo cáo.
  • Mô hình kế toán tập trung: Áp dụng ở Pháp và các nước có tổ chức nhà nước đơn nhất. Mọi nghiệp vụ phát sinh đều được kiểm soát và ghi chép tập trung vào sổ sách tổng hợp của Nhà nước do một đầu mối trực thuộc Bộ Tài chính (Kho bạc Nhà nước) quản lý.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là phương pháp định tính kết hợp phân tích thể chế:

  • Phương pháp biện chứng duy vật: Xem xét kế toán nhà nước trong sự vận động lịch sử, mối liên hệ mật thiết với cải cách thể chế kinh tế và quản lý tài chính công qua các giai đoạn.
  • Phương pháp lịch sử và logic: Khảo cứu quá trình hình thành hạch toán kế toán và sự phát triển của hệ thống Kho bạc Nhà nước Việt Nam từ năm 1946 đến nay.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ ra những điểm mâu thuẫn giữa quy định quản lý ngân sách và chế độ kế toán hiện hành.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa kế toán nhà nước với kế toán doanh nghiệp; đối chiếu ưu nhược điểm của mô hình kế toán công tại Pháp, Canada với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Nguồn tư liệu, dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ số liệu thực tế tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp có thu, cơ quan Dự trữ quốc gia, Bảo hiểm xã hội, cơ quan Thi hành án; các cơ quan quản lý vĩ mô gồm Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước Trung ương, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan; và các báo cáo khảo sát từ Dự án VIE/02/008 của Văn phòng Quốc hội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về kế toán và Kế toán nhà nước

Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết và phân tích các yếu tố môi trường tác động đến hệ thống kế toán nhà nước tại Việt Nam, bao gồm kinh nghiệm quốc tế. Tác giả điểm lại lịch sử hạch toán kế toán tồn tại gần 6.000 năm, từ việc sử dụng giấy papyrus tại Ai Cập cổ đại, bảng gốm sành tại Assyrie và Babylone đến bảng sáp tại La Mã, dẫn đến sự ra đời của bút toán kép.

Luận án phân định bản chất giữa kế toán doanh nghiệp và kế toán nhà nước, chỉ rõ sự khác biệt căn bản về mục tiêu, nguồn thu và cơ cấu chi phí:

Tiêu chí so sánh Kế toán doanh nghiệp Kế toán nhà nước
Bản chất nguồn thu Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá thị trường. Thu mang tính bắt buộc (chủ yếu là thuế) do các tổ chức, hộ gia đình nộp cho Nhà nước.
Bản chất khoản chi Chi phí nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ để bán trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Chi tiêu nhằm cung cấp hàng hóa công cộng (y tế, giáo dục công, quốc phòng, an ninh, đối ngoại).
Tính chất thông tin Tập trung vào thông tin tài chính, bảo toàn vốn và đo lường kết quả kinh doanh. Kết hợp chặt chẽ giữa thông tin tài chính (tài sản, công nợ) và thông tin ngân sách (chấp hành dự toán).

Luận án chỉ ra các yếu tố môi trường tác động trực tiếp đến kế toán nhà nước:

  • Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002: Tại khoản 2 Điều 61 đã quy định giao cho Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện hạch toán kế toán nhà nước. Đây là tiền đề pháp lý then chốt cho việc hợp nhất đầu mối kế toán.
  • Luật Kế toán năm 2003: Văn bản luật kế toán đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh toàn diện các đối tượng kế toán thuộc lĩnh vực công, tuy nhiên văn bản này chưa chính thức sử dụng thuật ngữ "kế toán nhà nước".
  • Tiến trình cải cách hành chính và công nghệ thông tin: Thực hiện Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010; việc triển khai dự án IFMIS và hệ thống TABMIS do Ngân hàng Thế giới tài trợ đặt ra yêu cầu tái cấu trúc quy trình hạch toán.
  • Lịch sử phát triển Kho bạc Nhà nước: Sắc lệnh số 75/SL ngày 29/05/1946 thành lập Nha Ngân khố trực thuộc Bộ Tài chính; Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/05/1951 chuyển giao quản lý quỹ sang Ngân hàng Quốc gia Việt Nam; Nghị định số 107-TTg ngày 20/07/1951 thành lập Kho bạc Nhà nước trong Ngân hàng Quốc gia; và Quyết định số 07/HĐBT ngày 04/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng tái lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính sau khi thí điểm tại hai tỉnh An Giang và Kiên Giang.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích sâu mô hình kế toán công của Pháp (xây dựng theo Luật Ngân sách Nhà nước năm 1959). Mô hình Pháp có ưu điểm dung hòa giữa phân cấp chấp hành ngân sách với tính thống nhất tài chính qua hệ thống công kế viên và cơ chế kế toán tiền mặt điều chỉnh; cung cấp "Báo cáo tuần" cho Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính cùng các Ủy ban của Nghị viện, kèm báo cáo ngân sách hàng tháng. Tuy nhiên, nhược điểm là thông tin tài sản chưa đầy đủ, thiếu trích khấu hao tài sản cố định và không gắn kết chi phí với kết quả thực hiện. Từ năm 1999, Pháp đã từng bước đưa nguyên tắc kế toán dồn tích vào kế toán nhà nước.

Chương 2: Thực trạng hệ thống kế toán nhà nước ở nước ta hiện nay

Chương 2 khảo sát cấu trúc hiện hành của hệ thống kế toán công tại Việt Nam, bao gồm 4 nhóm chế độ chính:

  1. Chế độ kế toán ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước.
  2. Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (áp dụng cho đơn vị thụ hưởng ngân sách, đơn vị sự nghiệp có thu).
  3. Chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã.
  4. Các chế độ kế toán chuyên ngành khác: Chế độ kế toán Bảo hiểm xã hội (sửa đổi theo Quyết định số 07/2003/QĐ-BTC ngày 17/01/2003 của Bộ Tài chính), kế toán dự trữ quốc gia, kế toán thi hành án.

Đánh giá hệ thống hiện hành, luận án chỉ ra các ưu điểm: Hệ thống đã hình thành khuôn khổ kiểm soát quỹ ngân sách từ trung ương đến địa phương; hỗ trợ điều hành ngân quỹ, đối chiếu số liệu xuất quỹ qua Kho bạc và phục vụ công tác quyết toán ngân sách hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.

Về nhược điểm, tác giả phân tích các hạn chế kỹ thuật và thể chế:

  • Tính chia cắt và thiếu nhất quán: Tồn tại quá nhiều chế độ kế toán độc lập. Số liệu thu, chi ngân sách ghi nhận tại cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước và đơn vị thụ hưởng ngân sách thường không thống nhất do kỹ thuật hạch toán không tương thích.
  • Hệ thống tài khoản chưa phản ánh bản chất kinh tế: Các tài khoản kế toán được thiết kế bám theo niên độ ngân sách và các mục lục ngân sách cơ bản thay vì phân loại theo tài sản nợ, tài sản có, doanh thu và chi phí thực tế.
  • Hạn chế của cơ sở tiền mặt thuần túy: Chưa phản ánh được các khoản nợ công tiềm tàng, các khoản cam kết chi và nghĩa vụ dự chi chưa thanh toán ngay trong kỳ; không thực hiện tính khấu hao tài sản cố định rộng rãi; không đo lường được đầy đủ tổng chi phí thực tế phát sinh để cung ứng dịch vụ công, dẫn đến việc không thể so sánh giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra.
  • Hệ thống đóng, thiếu tính mở: Mỗi khi phát sinh nghiệp vụ tài chính mới, cơ quan quản lý lại phải ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung cục bộ, gây khó khăn cho việc xử lý dữ liệu và cản trở tiến trình tin học hóa tập trung quy mô quốc gia.

Chương 3: Hoàn thiện hệ thống Kế toán nhà nước

Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống kế toán nhà nước, chia thành các nhóm nội dung:

  • Quan điểm hoàn thiện:
    1. Hợp nhất kế toán nhà nước: Hợp nhất các chế độ kế toán phân tán thành một hệ thống kế toán nhà nước duy nhất, dùng chung một khung tài khoản áp dụng cho các cơ quan quản lý và đơn vị sử dụng ngân sách.
    2. Kết hợp cơ sở tiền mặt và cơ sở dồn tích: Giữ nguyên cơ sở tiền mặt đối với các báo cáo chấp hành dự toán ngân sách phục vụ cơ quan dân cử; đồng thời vận dụng cơ sở dồn tích để theo dõi tài sản, nợ phải trả, chi phí và doanh thu hoạt động nhằm lập báo cáo tài chính nhà nước.
    3. Tổ chức bộ máy: Kiện toàn tổ chức theo mô hình tập trung kết hợp, tiến tới thành lập cơ quan Tổng kế toán nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính.
    4. Ứng dụng công nghệ thông tin: Tích hợp hệ thống trao đổi thông tin toàn diện trên cơ sở hạ tầng TABMIS.
  • Phương hướng hoàn thiện:
    • Về pháp lý: Sửa đổi, bổ sung Luật Kế toán để luật hóa thuật ngữ "kế toán nhà nước"; nghiên cứu xây dựng hệ thống Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trên nền tảng IPSAS.
    • Về cải cách hành chính: Phân định rõ trách nhiệm giữa người ra lệnh thu/chi và người thực thi kế toán; chuyển đổi phương thức quản lý từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát kết quả đầu ra.
    • Về hội nhập: Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu kế toán tương thích với các nguyên tắc thống kê tài chính chính phủ của IMF và Ngân hàng Thế giới.
  • Giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ cụ thể:
    • Hệ thống chứng từ kế toán: Chuẩn hóa biểu mẫu chứng từ thu, chi ngân quỹ; tinh giảm các chứng từ trung gian; đảm bảo chứng từ là căn cứ pháp lý duy nhất dùng chung cho cả đơn vị dự toán và Kho bạc.
    • Hệ thống tài khoản kế toán: Thiết kế Bảng danh mục tài khoản kế toán nhà nước thống nhất gồm các tài khoản trong bảng (phản ánh tài sản, công nợ, nguồn vốn, doanh thu, chi phí theo cơ sở dồn tích) kết hợp hệ thống mã hóa mục lục ngân sách (chương, loại, khoản, mục, tiểu mục).
    • Hệ thống sổ kế toán: Quy định mẫu sổ chi tiết và sổ cái tích hợp trên phần mềm máy tính, tự động ghi nhận song song bút toán ngân sách và bút toán tài chính.
    • Hệ thống báo cáo: Tách bạch và chuẩn hóa hai hệ thống báo cáo gồm Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước (lập theo niên độ và cơ sở tiền mặt) và Báo cáo tài chính nhà nước (lập trên cơ sở dồn tích, gồm Bảng cân đối tài chính, Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ).
  • Đề xuất đối với các cơ quan liên quan: Kiến nghị Quốc hội hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về ngân sách và kế toán; kiến nghị Chính phủ và Bộ Tài chính ban hành chuẩn mực kế toán công, chỉ đạo triển khai TABMIS; kiến nghị các đơn vị đào tạo đổi mới giáo trình kế toán công theo hướng tiếp cận kế toán dồn tích và mô hình kế toán nhà nước hợp nhất.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã làm rõ cơ sở khoa học, bản chất, nguyên tắc và đối tượng của kế toán nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phân định rõ giữa thông tin tài chính và thông tin ngân sách; phân tích bản chất hai mô hình tổ chức kế toán công tập trung và phân tán trên thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm về việc áp dụng nguyên tắc bất kiêm nhiệm và cơ chế kế toán tiền mặt điều chỉnh từ Cộng hòa Pháp.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp cụ thể:

  • Hệ thống hóa các giai đoạn phát triển của các chế độ kế toán khu vực công tại Việt Nam từ sau năm 1945, làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng phân mảnh chế độ kế toán hiện hành.
  • Đề xuất mô hình hợp nhất hệ thống kế toán nhà nước, trong đó thiết lập một hệ thống tài khoản kế toán nhà nước thống nhất áp dụng chung cho Kho bạc Nhà nước và các cơ quan, đơn vị có sử dụng ngân sách.
  • Xác định giải pháp kỹ thuật kết hợp giữa cơ sở tiền mặt và cơ sở dồn tích, giúp Nhà nước vừa kiểm soát được dự toán ngân quỹ, vừa theo dõi được biến động tài sản công và nợ công.
  • Đề xuất lộ trình xây dựng mô hình Tổng kế toán nhà nước, đưa kế toán quản trị và hạch toán quản lý nợ vào kế toán công, cùng việc xây dựng hệ thống Chuẩn mực kế toán công Việt Nam để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hậu gia nhập WTO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu chủ yếu dựa trên khung thể chế và dữ liệu thực tế tại thời điểm trước năm 2007. Khi đó, Dự án Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS) mới đang trong quá trình chuẩn bị triển khai, hệ thống Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) chưa được thể chế hóa chính thức tại Việt Nam, và Luật Kế toán năm 2003 chưa quy định cụ thể thuật ngữ kế toán nhà nước. Do đó, các giải pháp thiết kế hệ thống tài khoản hợp nhất chưa được kiểm chứng vận hành trên một hệ thống phần mềm dữ liệu lớn tích hợp trên phạm vi toàn quốc.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án định hướng:

  • Tiếp tục nghiên cứu, biên soạn chi tiết hệ thống Chuẩn mực kế toán công Việt Nam (VPSAS) dựa trên cơ sở Chuẩn mực kế toán nhà nước quốc tế (IPSAS).
  • Nghiên cứu mô hình tổ chức chi tiết của cơ quan Tổng kế toán nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính khi hạ tầng công nghệ thông tin TABMIS đã vận hành ổn định trên cả nước.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng trong lĩnh vực tài chính công:

  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Quốc hội, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước): Nội dung Chương 3 cung cấp cơ sở luận cứ để sửa đổi các quy định pháp luật về kế toán công, thiết kế lại danh mục tài khoản kế toán áp dụng trong hệ thống TABMIS, và định hướng xây dựng Đề án Tổng kế toán nhà nước.
  • Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Tài chính: Chương 1 và Chương 2 cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh về các nguyên tắc kế toán công đặc thù (nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc không phân bổ thu - chi), dữ liệu lịch sử về hệ thống Kho bạc Nhà nước Việt Nam, cùng phân tích so sánh chi tiết về mô hình kế toán công của Pháp và các nước liên bang.
  • Đối với cán bộ nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước và kế toán trưởng các đơn vị hành chính sự nghiệp: Luận án phân tích rõ cơ chế chuyển đổi từ quản lý ngân sách theo yếu tố đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra, giúp người làm kế toán hiểu rõ sự khác biệt giữa ghi nhận ngân quỹ theo cơ sở tiền mặt và phản ánh nghĩa vụ theo cơ sở dồn tích.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án đề xuất phải kết hợp cả cơ sở tiền mặt và cơ sở dồn tích trong hệ thống kế toán nhà nước?
Luận án chỉ ra rằng kế toán thuần túy trên cơ sở tiền mặt chỉ ghi nhận dòng tiền thực tế nhập, xuất quỹ, phù hợp cho việc kiểm soát chấp hành dự toán ngân sách của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, nhưng không phản ánh được các khoản nợ công tiềm tàng, các cam kết chi trong tương lai và tình hình khấu hao tài sản công. Ngược lại, cơ sở dồn tích phản ánh đúng thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế và toàn bộ chi phí thực tế tạo ra kết quả đầu ra. Việc kết hợp cả hai cơ sở giúp vừa đảm bảo kỷ luật ngân sách theo luật định, vừa cung cấp bức tranh tài chính toàn diện về tài sản và nghĩa vụ nợ của Nhà nước.

2. Nguyên tắc tách rời người ra lệnh và người làm kế toán (nguyên tắc bất kiêm nhiệm) trong kế toán nhà nước có ý nghĩa gì?
Nguyên tắc này bắt nguồn từ yêu cầu an toàn công quỹ, chuyên môn hóa quản lý và bảo đảm tính minh bạch. Theo đó, người ra lệnh (thủ trưởng cơ quan, chuẩn chi viên) có thẩm quyền hành chính để quyết định tính cần thiết và thích ứng thực tế của khoản chi (tính hợp thời), nhưng lệnh chi bắt buộc phải do một công chức kế toán độc lập ghi chép và kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ theo quy chế tài chính (tính hợp thức) trước khi xuất quỹ. Hai vị trí này không được kiêm nhiệm nhằm tạo ra cơ chế kiểm soát lẫn nhau.

3. Điều 61 khoản 2 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 có vai trò thế nào đối với định hướng hoàn thiện kế toán nhà nước?
Khoản 2 Điều 61 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 quy định Kho bạc Nhà nước có nhiệm vụ tổ chức thực hiện hạch toán kế toán nhà nước. Theo luận án, đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhất xác lập đầu mối tập trung thực hiện công tác kế toán nhà nước tại cơ quan Kho bạc, tạo tiền đề cho quá trình xóa bỏ sự phân tán của các chế độ kế toán công hiện hành và hướng tới việc thành lập Tổng kế toán nhà nước.

4. Mô hình kế toán công của Pháp mang lại bài học kinh nghiệm gì cho Việt Nam?
Mô hình của Pháp cho thấy ưu điểm của việc tổ chức mạng lưới công kế viên có thứ bậc chặt chẽ, áp dụng phương pháp kế toán tiền mặt điều chỉnh để vừa theo dõi chấp hành ngân sách, vừa cho phép lập báo cáo tài sản cuối năm theo phương pháp kế toán doanh nghiệp; đồng thời cung cấp các "Báo cáo tuần" cho cấp lãnh đạo quản lý. Tuy nhiên, nhược điểm là hệ thống này không được thiết kế ban đầu để phản ánh đầy đủ tài sản và tính toán giá thành dịch vụ công, khiến Pháp từ năm 1999 phải từng bước cải cách đưa nguyên tắc dồn tích vào hệ thống kế toán nhà nước.

5. Dự án công nghệ thông tin nào được luận án xác định là nền tảng cốt lõi cho việc hiện đại hóa kế toán nhà nước Việt Nam giai đoạn này?
Đó là Dự án "Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc" (TABMIS - Treasury and Budget Management Information System) nằm trong khuôn khổ Dự án "Hệ thống thông tin quản lý tài chính tích hợp" (IFMIS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ, được triển khai theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cải cách hành chính nhà nước.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hồng đã phân tích toàn diện cơ sở lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng phân mảnh của các chế độ kế toán khu vực công tại Việt Nam trước năm 2007. Công trình đã luận giải tính tất yếu của việc hợp nhất hệ thống kế toán nhà nước, đề xuất khung giải pháp kỹ thuật đồng bộ về hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách và báo cáo tài chính trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp tiền mặt và dồn tích. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học cho tiến trình cải cách công tác quản lý tài chính công, hiện đại hóa công nghệ thông tin qua hệ thống TABMIS và định hướng hội nhập chuẩn mực kế toán công quốc tế tại Việt Nam.