Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng. Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính trong các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng. 16 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG 1.
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XÂY DỰNG TRONG NỀN KINH TẾ 1. Khái niệm và vai trò công ty xây dựng 1. Khái niệm công ty xây dựng Ngành xây dựng bao gồm các hoạt động: - Xây dựng và lắp đặt các thiết bị trong các công trình phục vụ sản xuất, đời sống xã hội và dân cư; - Sửa chữa lớn các công trình xây lắp; - Hoạt động thi công cơ giới phục vụ cho việc xây dựng các công trình; - Hoạt động xây dựng, lắp đặt và sửa chữa lớn tự làm của các thành phần kinh tế và các hộ dân cư. Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình.
Hoạt động xây dựng là quá trình lao động để tạo ra các sản phẩm xây dựng cho nền kinh tế quốc dân gồm những công việc sau: - Thăm dò, khảo sát thiết kế; - Xây dựng mới, xây dựng lại các công trình; - Cải tạo mở rộng, nâng cấp, hiện đại hóa các công trình; - Cho thuê phương tiện, máy móc thi công có người điều khiển đi kèm. Các công ty thực hiện chức năng cung cấp các sản phẩm dịch vụ xây dựng trong một khoảng thời gian nhất định gọi là các công ty xây dựng. Vậy công ty xây dựng có thể được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, chuyên sản xuất xây dựng trên thị trường để đạt được mục đích tối đa hóa lợi nhuận. 17 Trong những năm qua, thị trường xây dựng Việt Nam đã phát triển không ngừng và các doanh nghiệp xây dựng gia tăng không ngừng về số lượng và quy mô hoạt động.
Có thể phân loại các công ty xây dựng theo các tiêu thức sau: - Căn cứ vào hình thức sở hữu vốn thì có thể phân chia công ty xây dựng thành công ty xây dựng Nhà nước, công ty xây dựng thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước. - Căn cứ theo hình thức pháp lý thì có thể phân chia công ty xây dựng thành công ty cổ phần xây dựng, công ty TNHH một thành viên xây dựng; công ty TNHH hai thành viên trở lên xây dựng; doanh nghiệp tư nhân xây dựng - Căn vào quy mô sản xuất kinh doanh thì có thể chia thành công ty xây dựng có quy mô lớn, công ty xây dựng có quy mô vừa và nhỏ. - Căn cứ vào sản phẩm kinh doanh của công ty xây dựng thì có thể chia thành công ty xây dựng công trình dân dụng; công ty xây dựng công trình công nghiệp; công ty xây dựng công trình giao thông; công ty xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn; công ty xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật; công ty xây dựng công trình quốc phòng, an ninh. Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, trong thực tế công ty xây dựng có thể hoạt động kinh doanh mang tính chất tổng hợp, kinh doanh đồng thời nhiều sản phẩm xây dựng.
Vai trò của công ty xây dựng trong nền kinh tế Xây dựng là ngành sản xuất vật chất quan trọng thuộc hệ thống các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, là ngành sản xuất đặc thù có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân bằng các hình thức xây mới, xây dựng lại, khôi phục và cải tạo các công trình, hạng mục công trình, tạo cơ sở vật chất cho xã hội, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của quá trình sáng tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất và đời sống con người. 18 Các công ty xây dựng đã tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân, thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động. Sự phát triển của các công ty xây dựng cũng như ngành xây dựng đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế có liên quan khác phát triển như ngành công nghiệp, du lịch, giao thông vận tải… 1.
Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng trong mối quan hệ với giám sát hoạt động tài chính 1. Đặc điểm sản phẩm xây dựng Sản phẩm xây dựng là các công trình, hạng mục công trình hoàn thành toàn bộ có thể bàn giao đưa vào sử dụng hoặc khối lượng xây dựng lắp đặt đạt điểm dừng kinh tế kỹ thuật, được nghiệm thu và thanh toán. Sản phẩm xây dựng có một số đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, sản phẩm xây dựng là cố định gắn chặt với đất đai, với điểm xây dựng. Đặc điểm này tạo tiền đề nảy sinh những đặc điểm khác.
Nó đòi hỏi sản phẩm xây dựng khi sản xuất cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng việc chọn địa điểm xây dựng của sản phẩm đó. Vị trí xây dựng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng công trình sau này, hiệu quả hay không hiệu quả. Thứ hai, về nguyên tắc sản phẩm xây dựng bao giờ cũng được sản xuất theo yêu cầu trước, chứ không phải tự sản xuất ra như các loại hàng hóa thông thường khác sau đó mới đem đi trao đổi. Đặc điểm này quyết định đến trình tự xây dựng cơ bản và đòi hỏi cơ chế quản lý cũng như giám sát riêng.
Thứ ba, mỗi công trình được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng tại một thời điểm nhất định. Đặc điểm sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về mọi mặt kinh tế, kỹ thuật, chính trị, mỹ thuật. Thứ tư, sản phẩm xây dựng rất đa dạng, tính cá biệt cao và chi phí xây dựng lớn. So với các ngành sản xuất khác, sản phẩm được sản xuất hàng loạt để bán thì ngành xây dựng lại khác.
Mỗi một công trình xây dựng đều có đặc điểm riêng do điều kiện địa chất và địa hình mang lại. Đặc điểm này yêu cầu phải xác định giá cả của sản phẩm xây dựng trước khi sản phẩm được làm ra. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây dựng Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất vật chất mang tính công nghiệp nhưng khác ngành sản xuất vật chất khác. Hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng có những đặc điểm riêng biệt và các đặc điểm này có ảnh hưởng đến việc giám sát các hoạt động tài chính của công ty xây dựng.
Thứ nhất, tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng. Trong xây dựng, con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác còn sản phẩm xây dựng thì hình thành và đứng yên một chỗ. Các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này làm khó khăn cho việc sản xuất, khó cải thiện điều kiện cho người lao động, làm phát sinh nhiều chi phí.
Đặc điểm này cũng đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải tăng cường tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ. Về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, tăng cường điều hành tác nghiệp, phấn đấu giảm chi phí vận chuyển. Trong công tác giám sát hoạt động tài chính phải chú ý đến giám sát việc sử dụng chi phí. Thứ hai, vốn lớn và chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài.
Để có thể xây dựng các công trình, các công ty xây dựng cần phải ứng trước một lượng vốn lớn, đồng thời thời gian xây dựng lại kéo dài. Đặc điểm này làm cho vốn đầu tư xây dựng các công trình và vốn sản xuất của công ty xây dựng thường bị ứ đọng lâu tại các công trình đang được xây dựng. Các công ty xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, các công trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của khoa học và công nghệ. Đặc điểm này đòi hỏi các công ty xây dựng phải chú ý đến lựa chọn phương án thời gian xây dựng phù hợp, phải có chế độ thanh toán và kiểm tra chất lượng trung gian thích hợp, dự trữ nguyên vật liệu hợp lý.
Đặc điểm này cũng đòi hỏi các công ty xây dựng phải có các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính cho phù hợp, nhất là giám sát việc sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn. 20 Thứ ba, sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường hợp cụ thể thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu. Trong nền kinh tế thị trường, việc nhận thầu xây dựng được tiến hành theo phương thức đấu thầu giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, để trúng thầu, được nhận thi công công trình thì doanh nghiệp xây dựng phải xây dựng được giá đấu thầu hợp lý trên cơ sở các định mức, đơn giá xây dựng cơ bản Nhà nước ban hành trên cơ sở giá cả thị trường và khả năng của doanh nghiệp về tiến độ thi công, tổ chức quản lý và việc phấn đấu hạ thấp chi phí, đảm bảo hoạt động kinh doanh có lãi.
Hoạt động xây lắp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký kết với chủ đầu tư sau khi trúng thầu hoặc được chỉ định thầu. Trong hợp đồng, hai bên thống nhất với nhau về giá trị thanh toán của công trình cùng với các điều kiện khác. Đặc điểm này đòi hỏi các công ty xây dựng phải có bộ chỉ tiêu giám sát việc hoàn thành kế hoạch. Thứ tư, quá trình sản xuất rất phức tạp.