Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEB phân tích và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng tại Trung tâm Thông tin Tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Chuyên ngành

Tài Chính Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

129
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG

1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại

1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
1.1.1.2. Đặc điểm của ngân hàng thương mại

1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại

1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
1.1.2.2. Hoạt động cho vay và đầu tư
1.1.2.3. Cung cấp các dịch vụ tài chính khác

1.1.3. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.3.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG

1.2.1. Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại

1.2.1.1. Khái niệm hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng
1.2.1.2. Vai trò của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng
1.2.1.3. Nội dung hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng
1.2.1.3.1. Các chỉ tiêu tài chính
1.2.1.3.2. Các chỉ tiêu phi tài chính

1.2.2. Kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG

1.3.1. Các nhân tố tác động tích cực

1.3.1.1. Nền tảng cơ sở dữ liệu hiện có
1.3.1.2. Công nghệ tin học, truyền thông
1.3.1.3. Phát triển các sản phẩm cảnh báo tín dụng có chất lượng tốt

1.3.2. Các nhân tố tác động tiêu cực

1.3.2.1. Hoạt động thông tin tín dụng ngân hàng
1.3.2.2. Hệ thống văn bản pháp luật

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG

2.1. KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

2.1.1. Sơ lược quá trình phát triển CIC

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm thông tin tín dụng

2.1.3. Các hoạt động chủ yếu của Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam

2.2. Sản phẩm thông tin tín dụng trong nước

2.2.1. Báo cáo xếp hạng tín dụng

2.2.2. Báo cáo thông tin doanh nghiệp ngoài nước

2.2.3. Bản tin thông tin tín dụng và Website cảnh báo tín dụng

2.3. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG

2.3.1. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG CỦA TRUNG TÂM TTTD

2.3.1.1. Nguyên nhân chủ quan
2.3.1.2. Nguyên nhân khách quan

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG

3.1.1. Định hướng phát triển Trung tâm thông tin tín dụng – Ngân hàng nhà Nước Việt Nam

3.1.2. Quan điểm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng – Ngân hàng nhà Nước Việt Nam

3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG

3.2.1. Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

3.2.2. Hoàn thiện thu thập và xử lý nguồn thông tin đầu vào

3.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1. Đối với Chính phủ

3.3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước

3.3.3. Đối với Trung tâm thông tin tín dụng

3.3.4. Đối với các Tổ chức tín dụng

3.3.5. Đối với doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Hệ thống này giúp các ngân hàng thương mại (NHTM) đánh giá và theo dõi tình hình tín dụng của khách hàng, từ đó đưa ra các quyết định hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro. Việc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM mà còn góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia.

1.1. Khái niệm và vai trò của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng là tập hợp các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính được sử dụng để đánh giá tình hình tín dụng của khách hàng. Vai trò của hệ thống này là cung cấp thông tin kịp thời, giúp các NHTM phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro tín dụng, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời.

1.2. Các chỉ tiêu tài chính trong hệ thống cảnh báo tín dụng

Các chỉ tiêu tài chính như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ an toàn vốn, và khả năng thanh toán là những yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tình hình tín dụng. Những chỉ tiêu này giúp các NHTM xác định được mức độ rủi ro của khách hàng và đưa ra quyết định cho vay hợp lý.

II. Thách thức trong việc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

Mặc dù hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng đã được triển khai, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như thiếu dữ liệu chính xác, công nghệ thông tin chưa phát triển đồng bộ, và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường tài chính đang gây khó khăn cho việc hoàn thiện hệ thống này.

2.1. Thiếu hụt dữ liệu và thông tin tín dụng

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu hụt dữ liệu chính xác và đầy đủ về khách hàng. Điều này làm giảm khả năng đánh giá rủi ro tín dụng và ảnh hưởng đến quyết định cho vay của các NHTM.

2.2. Công nghệ thông tin chưa đồng bộ

Công nghệ thông tin là yếu tố quan trọng trong việc thu thập và phân tích dữ liệu tín dụng. Tuy nhiên, nhiều NHTM vẫn sử dụng các hệ thống cũ kỹ, không đáp ứng được yêu cầu hiện đại, dẫn đến việc xử lý thông tin không hiệu quả.

III. Phương pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

Để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng, cần áp dụng các phương pháp hiện đại và hiệu quả. Việc cải tiến quy trình thu thập dữ liệu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến là những giải pháp cần thiết.

3.1. Cải tiến quy trình thu thập và xử lý thông tin

Cần xây dựng một quy trình thu thập và xử lý thông tin tín dụng chặt chẽ, đảm bảo tính chính xác và kịp thời. Việc này sẽ giúp các NHTM có được thông tin đầy đủ để đưa ra quyết định cho vay.

3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng. Nhân viên cần được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng một cách hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng đã được áp dụng thực tiễn tại nhiều NHTM, giúp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro. Các ngân hàng đã sử dụng thông tin từ hệ thống này để đưa ra quyết định cho vay, từ đó giảm thiểu rủi ro tín dụng và tăng cường an toàn tài chính.

4.1. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng đã giúp các NHTM giảm tỷ lệ nợ xấu và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các ngân hàng đã có thể phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro và đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời.

4.2. Các mô hình ứng dụng thành công

Nhiều NHTM đã áp dụng thành công các mô hình cảnh báo tín dụng, giúp cải thiện quy trình cho vay và quản lý rủi ro. Những mô hình này đã chứng minh được tính hiệu quả trong việc giảm thiểu rủi ro tín dụng.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường tài chính. Việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống này.

5.1. Định hướng phát triển hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

Định hướng phát triển hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng cần tập trung vào việc cải tiến công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng dữ liệu. Điều này sẽ giúp các NHTM có được thông tin chính xác và kịp thời để đưa ra quyết định cho vay.

5.2. Tương lai của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng

Tương lai của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi của thị trường tài chính. Việc áp dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn sẽ giúp nâng cao hiệu quả của hệ thống này.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng của trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng nhà nước việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG 1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nên kinh tế. Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá nhân, hộ gia đình) và với hầu hết các cơ quan chính quyền địa phương (thành phố, tỉnh…).

Khi kinh doanh và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua bán hàng hóa dịch vụ, họ thường sử dụng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử. Và khi cần thông tin tài chính hay cần lập kế hoạch tài chính, họ thường tìm đến Ngân hàng để tư vấn. Trên toàn thế giới, ngân hàng là một loại hình tổ chức trung gian tài chính cung cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất.Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhất trên thị trường tín phiếu và trái phiếu.Ngân hàng cũng là một trong những tổ chức tài chính cung cấp vốn lưu động quan trọng nhất cho các doanh nghiệp. Tại điều 20, Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng”; “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.

Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”; “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung 4 thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Đặc điểm của ngân hàng thương mại Thứ nhất, ngân hàng thương mại trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tàm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người bổ sung vốn; (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Do tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.

Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy, thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng vốn lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng.Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn.Đây là quan hệ tài chính trực tiếp. Tuy nhiên, quan hệ tài chính trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian.

Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy nở trung gian tài chính. Trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư). Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư. Cơ chế hoạt động trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.

5 Ngân hàng sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền. Thực tế, các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Ngân hàng cũng thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng. Ngân hàng là một trung gian thanh toán.

Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ với nhiều hình thức thanh toán như bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ.cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng cũng thực hiện bù trừ lẫn nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc thông qua trung tâm thanh toán.Hiện nay, ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất ở hầu hết các quốc gia. Một lý do để ngân hàng phát triển thịnh vượng là khả năng thẩm định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro – lợi nhuận hấp dẫn nhất.

Thứ hai, ngân hàng là tổ chức kinh doanh phải có điều kiện.Ngân hàng chịu sự điều hành chặt chẽ của Chính phủ hơn bất kỳ tổ chức nào trong nền kinh kế, bởi ngân hàng là thủ quỹ của cả nền kinh tế. Ngân hàng muốn được cấp giấy phép hoạt động phải có một lượng vốn nhất định, cam kết thực hiện một số chính sách nhất định như cho vay, tài trợ cho một dự án hay một khoản chi tiêu nào đó, đồng thời trong quá trình hoạt động, ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Muốn hoạt động tốt, ngân hàng không ngừng gia tăng nguồn vốn của mình, tuyển nhân sự có đủ số lượng và chất lượng, có mạng lưới chi nhánh rộng khắp để đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng và thực hiện nhiều hoạt động khác, nhằm thu được lợi nhuận lớn, hạn chế rủi ro cho cả người gửi tiền và ngân hàng. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 1.

Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn là hoạt động thường xuyên của Ngân hàng thương mại.Một Ngân hàng thương mại bất kì nào cũng bắt đầu hoạt động của mình bằng việc huy động nguồn vốn.Đối tượng huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn tiền nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế, dân cư. Nguồn vốn quan trọng nhất,và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là tiền gửi của khách hàng. Các Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội, thậm chí cả nguồn tiền của các Ngân hàng khác. Các hoạt động huy động nguồn vốn trên đây hình thành nên tài sản nợ của Ngân hàng và Ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các nguồn vốn huy động được theo yêu cầu của khách hàng.

Quy mô và cơ cấu nguồn vốn quyết định đến hoạt động của Ngân hàng. Do đó quản lí nguồn vốn phù hợp và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề mang tính chiến lược đối với mỗi Ngân hàng. Hoạt động cho vay và đầu tư Khi đã huy động được vốn rồi, nắm trong tay một số tiền nhất định thì các Ngân hàng thương mại phải làm như thế nào để hiệu quả hoá những nguồn này, nghĩa là tìm cách để những khoản tiền đó được đầu tư đúng nơi, đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Sự phát triển của hoạt động cho vay, đã giúp Ngân hàng có vị trí ngày càng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế.Hơn nữa thông qua hoạt động cho vay, Ngân hàng thương mại có khả năng “tạo tiền” hay mở rộng lượng tiền cung ứng.Tuy nhiên hoạt động cho vay của Ngân hàng chứa đựng nhiều yế tố rủi ro nên Ngân hàng thường áp dụng các nguyên tắc hoạt động và quản lý tiền vay một cách chặt chẽ.

7 Hoạt động quan trọng của ngân hàng thương mại là tìm cách sử dụng nguồn vốn của mình để thu lợi nhuận.Việc sử dụng vốn là quá trình biến tài sản nợ thành tài sản có khác nhau, trong đó cho vay và đầu tư là tài sản quan trọng nhất.Do vậy quản lý tài sản là nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng thương mại để tránh rủi ro, đảm bảo an toàn vốn. Nghiệp vụ này mang tính rủi ro cao do chịu nhiều yếu tố tác động như: kinh tế, chính trị, điều kiện tự nhiên. Cung cấp các dịch vụ tài chính khác Bên cạnh các hoạt động mang tính truyền thống và đặc trưng, ngân hàng thương mại cũng tiến hành các hoạt động khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận như: cung cấp dịch vụ ủy thác, dịch vụ tư vấn, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý. Ngoài trung gian tài chính, ngân hàng thương mại còn là trung gian thanh toán.Ngân hàng thay mặt khách hàng chi trả giá trị hàng hoá và dịch vụ trong và ngoài nước.Để thanh toán được nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và tiết kiệm, ngân hàng dùng nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như:séc, chuyển tiền, uỷ nhiệm chi, bù trừ qua ngân hàng thương mại hoặc qua trung tâm thanh toán, nhờ thu v.

bằng các biện pháp kỹ thuật như:thư, điện tín, hệ thống máy tính điện tử. Tuy vậy trong các nghiệp vụ của NHTM thì nghiệp vụ tín dụng vẫn là nghiệp vụ quan trọng nhất, là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu, quyết định kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 8 Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theolãi suất.

Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ