Chương 1: Tổng quan về Báo cáo tài chính áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp + Chương 2: Thực trạng trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính ở các đơn vị hành chính sự nghiệp tại Việt Nam + Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống Báo cáo tài chính cho các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1.1 Tổng quan về đơn vị hành chính sự nghiệp và Báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp 1.1 Tổng quan về đơn vị hành chính sự nghiệp - Khái niệm: Đơn vị hành chính sự nghiệp là những đơn vị thuộc lĩnh vực phi sản xuất vật chất, hoạt động chủ yếu từ nguồn kinh phí ngân sách cấp để thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước, cung cấp các dịch vụ công cho toàn xã hội. Các đơn vị hành chính sự nghiệp còn gồm các đoàn thể, hội nghề nghiệp, các lực lượng vũ trang, đơn vị an ninh quốc phòng…Nguồn kinh phí hoạt động của các đơn vị này có nguồn từ ngân sách cấp nên các đơn vị hành chính sự nghiệp còn được gọi là đơn vị dự toán hay đơn vị thụ hưởng ngân sách ( Mai Thị Hoàng Minh, 2012). - Phân loại: + Theo đặc điểm quản lý: Các đơn vị hành chính sự nghiệp được chia thành 2 khối chuyên môn hóa. Đó là các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công cho xã hội ( Mai Thị Hoàng Minh, 2012).
+ Theo chức năng hoạt động bao gồm: Các cơ quan quản lý nhà nước trung ương và địa phương, các đơn vị sự nghiệp kinh tế, các tổ chức chính trị xã hội và tổ chức nghề nghiệp khác, và các cơ quan an ninh quốc phòng. - Đặc điểm: + Các đơn vị hành chính sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi sản xuất, thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính của nhà nước là quản lý hành chính, quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công cho xã hội: y tế, giáo dục…. 2 + Nguồn kinh phí hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và các khoản thu khác do luật định. + Các đơn vị hành chính sự nghiệp hoạt động theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao và được ngân sách nhà nước cấp toàn bộ hoặc một phần dự toán được duyệt.
+ Các đơn vị hành chính sự nghiệp phải lập dự toán thu chi theo các định mức, tiêu chuẩn. + Việc quản lý tài chính và thực hiện kế toán ở các đơn vị hành chính sự nghiệp chịu sự chi phối trực tiếp của Luật ngân sách nhà nước. + Các đơn vị hành chính sự nghiệp có trách nhiệm thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của đơn vị phục vụ cho đối tượng sử dụng theo quy định. + Các đơn vị hành chính sự nghiệp trong cùng một ngành theo 1 hệ thống dọc được chia thành các cấp gồm: Đơn vị dự toán cấp 1, Đơn vị dự toán cấp 2 và Đơn vị dự toán cấp 3.
Đơn vị dự toán cấp 1: trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm từ Thủ tướng Chính phủ hoặc từ Ủy ban nhân dân tỉnh, phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới, thực hiện quản lý kinh phí của cấp mình và các đơn vị trực thuộc. Đơn vị dự toán cấp 2: trực thuộc đơn vị dự toán cấp 1, nhận dự toán ngân sách từ cấp 1 và phân bổ dự toán cho cấp 3, chịu trách nhiệm quản lý kinh phí và quyết toán ngân sách của cấp mình và các đơn vị trực thuộc. Đơn vị dự toán cấp 3: là đơn vị dự toán trực tiếp nhận dự toán ngân sách từ đơn vị dự toán cấp 2 hoặc cấp 1, thực hiện quản lý kinh phí cấp mình và đơn vị dự toán cấp dưới. - Hoạt động tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp 3 Không giống như các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, các đơn vị hành chính sự nghiệp hoạt động theo mục tiêu, nhiệm vụ của Nhà nước.
Tuy nhiên, tùy theo từng loại hình và đặc thù của từng đơn vị mà ở các đơn vị này có tổ chức thêm các hoạt động khác nhằm tạo nguồn thu cho đơn vị. Hoạt động tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp gồm hai mặt sau: + Theo dõi, quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. + Tự huy động vốn và tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động sẵn có của đơn vị để tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ. - Nguyên tắc quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp + Quản lý nguồn kinh phí thường xuyên do ngân sách cấp cho các đơn vị dự toán theo hệ thống định mức chi tiêu.
Định mức chi tiêu hiện nay gồm hai loại: định mức chi tổng hợp và định mức chi cho từng mục lục ngân sách nhà nước. + Quản lý và cấp phát nguồn kinh phí hoạt động cho các đơn vị phải theo dự toán năm đã được duyệt. Dự toán thông báo cho nội dung chi nào phải thực hiện chi cho mục đó. Trong trường hợp cần điều chỉnh dự toán thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhưng không được làm thay đổi tổng mức dự toán do cấp thẩm quyền phê duyệt.
Trong trường hợp có biến động khách quan trong quá trình chấp hành dự toán làm thay đổi dự toán sẽ được ngân sách nhà nước bổ sung theo thủ tục quy định của Luật ngân sách nhà nước để đảm bảo cho các đơn vị hành chính sự nghiệp hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. + Quản lý kinh phí hoạt động của từng đơn vị do đơn vị tự đảm nhiệm và người chịu trách nhiệm đầu tiên là thủ trưởng đơn vị. - Phương pháp quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp + Phương pháp thu đủ, chi đủ: phương pháp này áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp có nguồn thu không đáng kể. 4 + Phương pháp thu chi chênh lệch: phương pháp áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp có nguồn thu phát sinh thường xuyên, lớn và ổn định.
Các đơn vị này được quyền giữ lại các khoản thu của đơn vị để chi tiêu theo dự toán, ngân sách nhà nước chỉ đảm bảo phần chênh lệch thiếu. + Phương pháp quản lý theo định mức: phương pháp này không tùy thuộc vào đặc thù của đơn vị hành chính sự nghiệp mà xuất phát từ mục đích tăng cường quản lý chi ngân sách ở các đơn vị dự toán. + Phương pháp khoán trọn gói: phương pháp này áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp trên cơ sở đề cao quyền sử dụng kinh phí của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, để nâng cao hiệu quả chi thường xuyên. Phương pháp này được cụ thể hóa qua cơ chế khoán chi đối với cơ quan hành chính nhà nước và cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu.
Cơ chế khoán chi: được thực hiện theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước. Mục tiêu thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính, đó là: Tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lý hành chính; nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí quản lý hành chính, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức; thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật. Ngày 07/10/2013 Chính phủ ban hành nghị định số 117/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ qui định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối các cơ quan nhà nước. Nghị định quy định bổ sung về xác định kinh phí giao để 5 thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Cụ thể, kinh phí quản lý hành chính giao cho các cơ quan Nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm được xác định và giao hàng năm bao gồm: Khoán quỹ tiền lương theo số biên chế được giao trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức; khoán chi hoạt động thường xuyên theo số biên chế được giao trên cơ sở vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức và định mức phân bổ ngân sách Nhà nước hiện hành; chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên và chi hoạt động nghiệp vụ đặc thù thường xuyên đã xác định được khối lượng công việc, theo tiêu chuẩn, chế độ định mức quy định của cơ quan có thểm quyền. Trong năm, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được tạm ứng từ dự toán đã giao thực hiện chế độ tự chủ để chi thu nhập tăng thêm, chi cho các hoạt động phúc lợi, chi bổ sung phục vụ hoạt động sự nghiệp. Cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập: Theo đó, các đơn vị sự nghiệp có trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước theo quy định hiện hành về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập. Tiền trích khấu hao và tiền thu do thanh lý sau khi trừ chi phí thanh lý của tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước, được để lại và hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (đối với đơn vị sự nghiệp Loại 1 và Loại 2), được để lại tăng nguồn kinh phí đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị (đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp - nếu có).
Tiền trích khấu hao, tiền thu do thanh lý sau khi trừ chi phí thanh lý của tài sản thuộc nguồn vốn vay, vốn huy động đơn vị được dùng để trả nợ tiền vay, tiền huy động.