Chương 1: Những vấn đề cơ bản về giá trị hợp lý 1. Các mô hình định giá Kế toán đòi hỏi các giao dịch phải được ghi nhận bằng đơn vị tiền tệ, do đó các khoản mục trên báo cáo tài chính phải được định giá: “Định giá là đo lường các giao dịch bằng đơn vị tiền tệ” (Vũ Hữu Đức, 2010, trang 28). Vấn đề định giá là một vấn đề đang được tranh cãi rất nhiều không chỉ những người làm kế toán, các nhà lập quy kế toán mà còn gây chú ý của nhà lãnh đạo các nước. Bởi lẽ, định giá làm ảnh hưởng đến lợi nhuận, tình hình tài chính của một công ty.
Đặc biệt, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mọi người đổ lỗi lên hệ thống định giá gây tăng trưởng kinh tế quá nhanh và kết thúc bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trong lịch sử phát triển của kế toán có rất nhiều loại giá cùng tồn tại bao gồm: kế toán giá gốc, kế toán theo mức giá chung, kế tóan giá hiện hành, kế toán giá đầu ra… 1.5 Kế toán giá gốc Kế toán giá gốc dựa trên giá mua vào quá khứ để ghi nhận các giao dịch và lập báo cáo tài chính. Giá gốc là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được tài sản tính đến trạng thái sẵn sàng sử dụng. Ưu điểm: Đối với chủ sở hữu và chủ nợ thì kế toán giá gốc giúp người đọc đánh giá năng lực quản lý cũng như trách nhiệm giải trình của người quản lý.
So với các phương pháp đo lường khác, giá gốc được cho là khách quan nên đảm bảo được đặc tính đáng tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính. Mặt khác, đo lường theo giá gốc sẽ để lại những dấu vết cho các kiểm toán giúp họ thực hiện các cuộc kiểm toán dễ dàng hơn. Nhược điểm: Kế toán giá gốc ra đời từ lúc ghi sổ kép Pacioli và tới ngày nay vẫn còn được sử dụng. Tuy nhiên, kế toán giá gốc cũng bộc lộ những nhược điểm nhất định.
Kế toán giá gốc phản ánh sự tăng trưởng của tài sản thuần theo đồng tiền danh nghĩa, không phản ánh tài sản thuần theo sức mua của đồng tiền. Do đó, dẫn đến nhà quản lý có thể sai lầm trong chia cổ tức, tức chia cổ tức nhiều hơn lãi thực của công ty. Mặt 123doc 22 khác, lợi nhuận tính theo giá gốc không quan tâm đến lợi nhuận kinh tế, tức chi phí cơ hội không được tính. Kế toán giá gốc được xây dựng dựa trên giả định hoạt động liên tục nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa thì sáp nhập, khủng hoảng diễn ra thường xuyên thì giả định này không được đảm bảo chắc chắn.
Kế đến, giả định nguyên tắc phù hợp cũng rất là khó đáp ứng, chẳng hạn như phân bổ chi phí giữa các kỳ kế toán đôi khi không chính xác. Theo Sterling nhận xét về giá gốc như sau: “Bản chất giá gốc không phải là nguyên lý cơ bản của kế toán; nó là thứ phái sinh của nguyên tắc thận trọng”.6 Kế toán giá theo mức giá chung Kế toán theo mức giá chung dựa trên chỉ số giá để điều chỉnh báo cáo tài chính nhằm loại trừ ảnh hưởng biến động của giá, đặc biệt trong tình hình lạm phát. Kế toán theo mức giá chung phát triển trong giai đoạn lạm phát gia tăng trên thế giới vào những năm thuộc thập niên 1960-1970, và hiện nay một số nước có mức lạm phát cao vẫn còn sử dụng. Ưu điểm: Tất cả các khoản mục trên báo cáo tài chính quy về cùng một đơn vị tiền tệ theo sức mua tại cùng một thời điểm xem xét, do đó giúp tăng khả năng so sánh được báo cáo tài chính giữa các công ty với nhau.
Các kỹ thuật áp dụng để lập báo cáo tài chính theo mức giá chung tương đối dễ dàng. Đồng thời, kế toán theo mức giá chung cung cấp thông tin hữu ích cho người quản lý: các khoản mục lãi/lỗ của khoản mục tiền tệ phản ánh cách thức mà người quản lý đối phó với lạm phát, các khoản mục phi tiền tệ được điều chỉnh theo sức mua của đồng tiền phản ánh doanh nghiệp cần có nguồn lực tương ứng để tái tạo chúng và lợi nhuận đã loại trừ ảnh hưởng của biến động giá sẽ giúp cho doanh nghiệp đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận chính xác hơn. Nhược điểm: Việc dùng một chỉ số để điều chỉnh là không phù hợp vì các tài sản khác nhau có mức độ lạm phát khác nhau, cũng như các ngành khác nhau chịu ảnh hưởng của lạm 123doc 23 phát cũng khác nhau. Mặt khác, việc phân loại khoản mục là tiền tệ và phi tiền tệ đôi khi gặp khó khăn.7 Kế toán giá hiện hành Kế toán giá hiện hành dùng giá hiện hành hay còn gọi là giá thay thế để lập báo cáo tài chính và xác định lợi nhuận.
Ưu điểm: Việc lập báo cáo tài chính dựa trên giá đầu ra giúp cho nhà quản lý xác định được lãi từ hoạt động kinh doanh, lãi/lỗ do nắm giữ đã thực hiện và lãi/lỗ do nắm giữ chưa thực hiện. Nhược điểm: Đối với các tài sản dài hạn như máy móc, chủ yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên việc tăng giá của các tài sản này không có ý nghĩa gì đối với doanh nghiệp. Mặt khác, có một số tài sản không phải lúc nào cũng có thị trường để xác định giá trị của chúng.8 Kế toán giá đầu ra Kế toán giá đầu ra dựa trên giá bán trên thị trường để đo lường và đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Ưu điểm: Kế toán giá đầu ra do dựa trên giá thị trường nên thích hợp với tất cả các đối tượng trong việc ra quyết định.
Nhược điểm: Kế toán giá đầu ra sử dụng tiền đề định giá trong trao đổi để định giá. Trong khi, một bộ phận tài sản của doanh nghiệp là sử dụng để hoạt động. Kế toán giá đầu ra là tiền đề ra đời một loại giá mới “giá hợp lý”. Giấc mơ của các nhà kinh tế là giá trị hợp lý của tài sản trừ đi giá trị hợp lý của nợ phải trả sẽ bằng với giá trị hiện hành của vốn chủ sở hữu nếu như vốn chủ sở hữu được bán trong thị trường mở.
Nhưng đây vẫn chỉ là giấc mơ không bao giờ trở thành sự thật bởi lẽ không phải dễ dàng gì ước tính được giá trị hợp lý cho tất cả các khoản mục trên báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, một số khoản mục như chi phí nghiên cứu phát triển, kỹ năng của người 123doc 24 lao động, danh mục khách hàng… gọi chung là tài sản vô hình của công ty thì vẫn chưa có một mô hình định giá nào giải quyết triệt để. Mặc dù, giá trị tài sản vô hình trên đóng góp rất lớn vào việc tạo ra lợi nhuận công ty và chỉ được định giá khi công ty được bán. Dẫu vậy, sự ra đời của giá trị hợp lý đã mở ra hướng phát triển mới trong hệ thống định giá của kế toán.
Sự hình thành giá trị hợp lý 1. Sự hình thành kế toán giá trị hợp lý Giá trị hợp lý là một vấn đề nổi bật trong thời gian gần đây. Nó trở thành tiêu chuẩn đo lường trên báo cáo tài chính (BCTC), đặc biệt cho các khoản mục là tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính. Theo nghiên cứu của Omiros Georgiou và Lisa Jack (2011)1 sự hình thành kế toán giá trị hợp lý có thể chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1850-1970: Giai đoạn tự phát của giá thị trường Trước đây, vấn đề định giá trong kế toán quy định rất lỏng lẻo nhưng sau đại khủng hoảng, giá gốc giữ một vai trò thống trị trong kế toán ở Mỹ vì người ta tin rằng nó sẽ hạn chế các công ty thổi phồng tài sản.
Giá thị trường được bàn đến trong các nghiên cứu dưới các hình thức giá trị thuần có thể thực hiện, giá hiện hành, giá đầu ra… Giai đoạn 1970-1990: Giai đoạn chính thức hình thành giá trị hợp lý Thời kỳ đầu của giai đoạn này, lạm phát khiến giá thị trường quan tâm. Một trong giá thị trường được nhắc đến là giá hiện hành được hạch toán để đối phó với lạm phát. Đến những năm 1970, một trong những báo cáo kế toán đầu tiên của Hoa Kỳ đề cập đến sử dụng giá trị hợp lý như là tiêu chuẩn trong đo lường là APB (Acounting Principles Board) 18. APB 18 trình bày báo cáo tài chính hạch toán và đo lường các khoản lỗ đầu tư như là yêu cầu ghi nhận khoản lỗ này nếu như giá trị hợp lý của khoản đầu tư sụt giảm xuống thấp hơn giá trị ghi sổ.
Đầu năm 1 Omiros Georgiou và Lisa Jack, 2011. In pursuit of legitimacy: a history behind fair value accounting, 251- 326 pp. 123doc 25 1973, APB 29 “kế toán các giao dịch phi tiền tệ” đã đưa ra triển vọng trình bày giá trị hợp lý cho những giao dịch phi tiền tệ. Cuối những thập niên 1970, FAS 15 “kế toán dành cho chủ nợ và khách nợ để tái cấu trúc nợ xấu” đã đưa ra khái niệm giá trị hợp lý.
Sang đến thập niên 1980, đo lường giá trị hợp lý cũng được trình bày trong kế toán các quỹ. Chuẩn mực kế toán quốc tế trong thời gian này cũng ban hành nhiều chuẩn mực có đề cập đến giá trị hợp lý như: IAS 16 “Bất động sản, nhà xưởng và máy móc thiết bị”, IAS 17 “thuê tài sản”… Giai đoạn 1990–2005: Giai đoạn phát triển của giá trị hợp lý 2 Trong suốt thập niên 1990, chứng kiến sự bùng nổ của thương mại internet toàn cầu, quá trình hợp nhất doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ. Tại Hoa kỳ, APB 16 “Hợp nhất kinh doanh” được cập nhật để ghi nhận lợi thế thương mại trong quá trình hợp nhất cho những tài sản vô hình. Năm 1991, FAS 107 “công bố giá trị hợp lý cho công cụ phái sinh” yêu cầu công bố giá trị hợp lý của các công cụ phái sinh.
Năm 1999, FAS 115 “kế toán cho chứng khoán nợ và chứng khoán vốn”, yêu cầu giá trị hợp lý là tiêu chuẩn đo lường cho nhiều loại chứng khoán nợ và chứng khoán vốn. Năm 2000, FAS giới thiệu FAS 133 “kế toán công cụ phái sinh và bảo hiểm rủi ro” yêu cầu ghi nhận các công cụ phái sinh theo giá trị hợp lý. Với sự gia tăng của nền kinh tế toàn cầu và ngày càng tăng các doanh nghiệp xuyên quốc gia, nhà đầu tư và người sử dụng khác đòi hỏi có bộ tiêu chuẩn chung cho thông tin tài chính.