Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện đánh giá thực hiện công việc tại Công ty TNHH văn hóa truyền thông New”. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản vể đánh giá thực hiện công việc trong doanh nghiệp. Chương 3: Phân tích thực trạng đánh giá thực hiện công việc tại Công ty TNHH văn hóa truyền thông New. Chương 4: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện đánh giá thực hiện công việc tại Công ty TNHH văn hóa truyền thông New.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỂ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2. Quản trị nhân lực Theo TS Mai Thanh Lan (2016) thì “Quản trị nhân lực được hiểu là tổng hợp các hoạt động quản trị liên quan đến việc hoạch định nhân lực, tổ chức quản trị nhân lực, tạo động lực cho người lao động và kiểm soát hoạt động quản trị nhân lực trong tổ chức/ doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu và chiến lược đã xác định”. Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì “Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của tổ chức để xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và gìn giữ một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng, quản trị nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức, giúp cho tổ chức tồn tại, phát triển trong cạnh tranh”.
Từ những khái niệm trên, ta có thể định nghĩa khái niệm quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp. Đánh giá thực hiên công việc Theo PGS. Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì “Đánh giá thực hiện công việc (ĐGTHCV) thường được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của NLĐ trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với NLĐ”. ĐGTHCV là một hoạt động quản lí nguồn nhân lực quan trọng và luôn luôn tồn tại trong tất cả các tổ chức.
Mặc dù ở các công ty nhỏ, ĐGTHCV có thể được thực hiện một cách không chính thức thông qua sự đánh giá hàng ngày của người giám sát với các nhân viên và sự đánh giá, góp ý lẫn nhau giữa các nhân viên nhưng hầu hết các tổ chức đều xây dựng cho mình một hệ thống đánh giá chính thức. Trong một hệ thống chính thức, tình hình hoàn thành nhiệm vụ lao động của từng NLĐ được đánh giá theo những khoảng thời gian được quy định với sự sử dụng những phương pháp đánh giá đã được thiết kế một cách có lựa chọn, tùy thuộc vào mục đích của đánh giá. Mai Thanh Lan (2016) thì “Đánh giá thực hiện công việc được hiểu là quá trình thu nhận và xử lý thông tin về quá trình và kết quả thực hiện công việc của nhân lực trong doanh nghiệp để đưa ra được những nhận định chính xác về mức độ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoàn thành công việc của nhân lực đối với một tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định”. Từ những khái niệm trên, ta có thể định nghĩa khái niệm đánh giá thực hiện công việc là quá trình thu thập thông tin về quá trình và kết quả đánh giá thực hiện công việc của cán bộ nhân viên trong thời kỳ kinh doanh nhất định.
Từ đó đưa ra những đánh giá về mức độ hoàn thành và năng lực thực hiện công việc của cán bộ nhân viên. Vai trò của đánh giá thực hiện công việc Đối với doanh nghiệp Đánh giá thực hiện công việc là công cụ quản lý, hỗ trợ nhà quản trị trong quá trình giao việc và kiểm soát việc thực hiện công việc. Đánh giá thực hiện công việc giúp định hướng cho hoạt động của người lao động do vậy tạo thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp. Đánh giá thực hiện công việc là cơ sở cho việc triển khai thực hiện các hoạt động quản trị nhân lực khác.
Về cơ bản, nhiều hoạt động trong doanh nghiệp sử dụng kết quả của việc đánh giá thực hiện công việc. Doanh nghiệp có cơ hội để xem xét lại kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất cần thiết đối với từng vị trí trong doanh nghiệp. Đối với người lao động Làm rõ năng lực làm việc, mức độ và những lý do hoàn thành hay không hoàn thành nhiệm vụ, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của cán bộ. Từ đó làm cơ sở đề ra kế hoạch công tác và kế hoạch phát triển cá nhân trong chu kỳ (hoặc các chu kỳ) kinh doanh tiếp theo.
Người lao động trong doanh nghiệp đó có cơ hội để tự đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất cần thiết đối với từng vị trí đang đảm nhiệm. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nội dung nghiên cứu về đánh giá thực hiện công việc trong doanh nghiệp Quy trình tổ chức đánh giá thực hiện công việc của tổ chức/doanh nghiệp được mô tả qua hình 2.1 sau: Xác định mục tiêu đánh giá thực hiện công việc Thiết kế đánh giá thực hiện công việc Triển khai đánh giá thực hiện công việc Sử dụng kết quả đánh giá thực hiện công việc Hình 2. Tổ chức công tác đánh giá thực hiện công việc ở tổ chức/doanh nghiệp Nguồn: TS.
Mai Thanh Lan etal., (2016) Dựa vào quy trình trên có thể thấy Quy trình ĐGTHCV là một quá trình bao gồm các bước tiến hành và triển khai công tác ĐGTHCV tại DN. Bao gồm các nội dung: xác định nhu cầu, thiết kế, triển khai thực hiện và sử dụng kết quả đánh giá được phối hợp theo logic giúp quy trình xây dựng và triển khai ĐGTHCV tại DN đạt kết quả tối ưu. Trên thực tế, mỗi tổ chức/doanh nghiệp có thể có quy trình ĐGTHCV bao gồm nhiều bước khác nhau với nhiều nội dung khác nhau. Nhưng suy cho cùng, bất kể quy trình nào cũng cần bao gồm 4 bước cơ bản (hình 2.1): Bước 1: Xác định mục tiêu ĐGTHCV là hướng tới việc tìm câu trả lời cho câu hỏi: “ Đánh giá thực hiện công việc nhằm đo lường cái gì?” Bước 2: Thiết kế ĐGTHCV là tạo nên hệ thống đánh giá để hướng dẫn quá trình triển khai đánh giá của tổ chức/ doanh nghiệp, bao gồm: xác định mục tiêu, tiêu chuẩn, chu kỳ, phương pháp, đối tượng, định hướng sử dụng đánh giá.
Bước 3: Triển khai ĐGTHCV bao gồm các nhiệm vụ: truyền thông đánh giá, đào tạo về đánh giá, phỏng vấn đánh giá. Bước 4: Sử dụng kết quả ĐGTHCV là dựa vào kết quả ĐGTHCV để đưa ra các quyết định về các hoạt động QTNL khác. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Xác định mục tiêu đánh giá thực hiện công việc Việc xác định mục tiêu đánh giá có vai trò rất quan trọng trong quá trình đánh giá thực hiện công việc của doanh nghiệp.
Ở mỗi giai đoạn khác nhau mục tiêu đánh giá thực hiện công việc có thể sẽ khác nhau. Xác định mục tiêu đánh giá thực hiện công việc là hướng tới việc tìm câu trả lời cho câu hỏi: “đánh giá thực hiện công việc nhằm đo lường cái gì?”. Đánh giá thực hiện công việc có thể hướng tới nhằm đo lường: kết quả thực hiện công việc (mức độ hoàn thành công việc, thành tích của từng cá nhân và tập thể), thái độ, hành vi, kiến thức, kỹ năng của người thực hiện công việc. Đánh giá thực hiện công việc có thể được thực hiện làm cơ sở cho: đãi ngộ nhân lực (trả lương, trả thưởng, tăng lương,.), bố trí và sử dụng nhân lực (luân chuyển, sa thải,.), đào tạo và phát triển nhân lực,.TS Lê Quân etal.
Thiết kế đánh giá thực hiện công việc 2. Lựa chọn chu kỳ đánh giá thực hiện công việc Theo TS. Mai Thanh Lan (2016) thì “Chu kỳ đánh giá thực hiện công việc được hiểu là một giai đoạn tính từ khi bắt đầu tiến hành đánh giá thực hiện công việc cho đến khi “chốt sổ” tổng hợp kết quả đánh giá”. Chu kỳ đánh giá thường là tuần, tháng, quý, sáu tháng, một năm.
Việc lựa chọn chu kỳ đánh giá tùy thuộc vào mục tiêu của hệ thống đánh giá. Chu kỳ đánh giá thường được tiến hành theo quý hoặc sáu tháng. Mỗi chu kỳ đánh giá có các ưu, nhược điểm sau: Tuần, tháng: Bám sát theo công việc. Hướng dẫn và định hướng liên tục cho nhân viên hoàn thành nhiệm vụ.
Cường độ đánh giá cao, có thể gây căng thẳng trong công việc và có thể lãng phí thời gian và tiền bạc. Áp dụng tại các thời điểm doanh nghiệp chuyển đổi hệ thống, phương thức quản lý và áp dụng với các công việc có chu kỳ kinh doanh ngắn, sự kiện, chiến dịch. Quý: Giảm cường độ đánh giá và công việc hành chính trong đánh giá. Vẫn bám sát được quá trình triển khai công việc nếu đi kèm với hoạt động rà soát hàng tháng.
Áp dụng phổ biến tại các doanh nghiệp. Rất có tác dụng với các doanh nghiệp thực hiện phân cấp quản lý xuống các đơn vị. Ba tháng là khoảng thời gian đủ dài, đủ ngắn để kiểm soát kết quả. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sáu tháng: Vẫn đảm bảo được hiệu quả nếu công tác lập kế hoạch công tác tháng, quý, năm tốt.
Tuy nhiên, do thời gian dài nên có thể bị chi phối bởi các sự kiện gần. Áp dụng với doanh nghiệp có hệ thống quản trị theo mục tiêu. Hệ thống đánh giá khá tiến bộ, đạt cấp độ “hệ thống quản lý thành tích”. Năm: Chu kỳ đánh giá năm chủ yếu tập trung vào định hướng và phát triển cá nhân.
Hệ thống đánh giá dễ trở thành hình thức. Thường áp dụng đi liền với đánh giá quý, sáu tháng. Để xác định thời gian thực hiện một chu kỳ đánh giá ta dựa trên mục tiêu cụ thể của đánh giá thực hiện công việc và thời gian cần thiết để hoàn thành nội dung đánh giá, một chu kỳ đánh giá hoàn chỉnh cần đủ dài để người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao. Xác định tiêu chuẩn đánh giá thực hiện công việc Xác định tiêu chuẩn đánh giá thực hiện công việc là xác định nội dung và tiêu chuẩn đánh giá phù hợp với từng công việc cụ thể trong doanh nghiệp.
Các loại tiêu chuẩn đánh giá thực hiện công việc: Phân loại theo phương thức đánh giá: Tiêu chuẩn định tính và định lượng.