Chương 1: Co sở lý luận về công tác thâm định tài chính dự án đầu tư vay vốn tại ngân hàng thương mai. - Chương 2: Thực trạng công tác thấm định tài chính dự án đầu tư vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam - chỉ nhánh Hà Nội giai đoạn 2018 - 2020. - Chương 3: Một sô giải pháp hoàn thiện công tác thâm định tài chính dự an vay vôn tại ngân hàng thương mại cô phần Hàng hải Việt Nam - chỉ nhánh Hà Nội đến năm 2025. CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TÁC THÁM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ AN DAU TƯ VAY VON TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Tổng quan về ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 1.Một số khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng (NH) là loại hình tô chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật, bao gồm các hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán theo tài khoản.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hang hợp tác xã; trong đó ngân hang thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh tiền tệ với nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp ứng dụng và cung ứng dịch vụ liên quan đên lĩnh vực tài chính-ngân hàng nhăm mục tiêu lợi nhuận. Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tin dụng to lớn dé có thé cho vay phát triển kinh tế.
Đặc điểm ngân hàng thương mại Là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt Theo Nghị định 86/2019/NĐ-CP ,dé thành lập một ngân hang thương mại phải có vốn điều lệ tối thiêu 3000 tỷ đồng, mạng lưới các chỉ nhánh ngân hàng rất lớn và phân tán rộng. Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu rất lớn, nguồn vốn của ngân hàng thương mại lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài ngân hàng. Phần lớn tài sản của ngân hàng thương mại là tài sản tài chính, mang đặc trưng trừu tượng, hình thái vật chất giản đơn. Hoạt động kinh doanh có nhiêu rủi ro tiêm ân và chịu sự kiêm soát, giám sat chặt chẽ của hệ thống luật pháp Nguồn vốn nợ chủ yếu của ngân hàng thương mại lại là tiền gửi với đặc trưng có thể bị rút ra trước hạn với khối lượng khó xác định.
Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng không được hưởng quy chế bảo hộ độc quyền và mang tinh phức tạp, trực tiếp. Vì những lý do này, hoạt động của ngân hàng thương mại chứa đựng nhiều rủi ro. Ngân hàng thương mại chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, trong đó quy định rõ về điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn của người lãnh đạo ngân hàng, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong hoạt động. Hoạt động kinh doanh mang tính hệ thống, chịu ảnh hưởng dây chuyền lẫn nhau Hệ thống ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lan tỏa rất nhanh.
Hoạt động như một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ cần một ngân hàng thương mại, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến nguy cơ phá sập hệ thống. Phân loại ngân hàng thương mai Dựa vào hình thức sở hữu, các ngân hàng thương mại được chia ra thành 5 loại ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cô phan, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng tư nhân. Trong đó, ngân hàng thương mại cô phần là loại hình ngân hàng chủ yếu ở Việt Nam. Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) là ngân hàng được thành lập từ vốn góp của các cô đông, kinh doanh đa năng.
Dựa vào chiến lược kinh doanh các ngân hàng thương mại được chia ra thành: ngân hàng thương mại bản buôn, ngân hàng thương mại bản lẻ, ngân hàng thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ. Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại 1. Chức năng của ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Với chức năng nảy, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia.
Chức năng trung gian thanh toan Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ dé thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Chức năng này vô hình trung đã thúc day lưu thông hàng hóa, day nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyền vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được dé cho vay, số tiền cho vay lại được khách hang sử dụng dé mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ hay kinh doanh trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ.
Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chỉ trả của xã hội. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nên kinh tế thị trường Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc day lực lượng sản xuất phát triển Hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại khắc phục những khiếm khuyết của thị trường tài chính, khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế. hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng dé đáp ứng nhu cau vốn cho nên kinh tế. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường: Khi vốn tự có của các doanh nghiệp không đủ phục vụ cho sản xuất kinh doanh (SXKD), ngân hàng thương mại sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn bằng nguồn vốn tín dụng.
Như vậy, ngân hàng thương mại chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường, giúp doanh nghiệp tìm được vốn đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh và thanh toán để tạo ra thành phẩm cho thị trường. Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Thông qua hoạt động của ngân hàng thương mại với các chủ thé khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại ngân hàng trung ương, giúp ngân hàng trung ương có thé hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ dé dam bảo thúc day nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ồn định. Ngân hàng thương mai là cầu nôi nên tài chính quôc gia với nên tài chính quôc tê Ngày nay, mỗi quốc gia độc lập đều phát triển quan hệ quốc tế đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực, trong đó quan hệ kinh tế được chú trọng nhất. Áp lực cạnh tranh buộc mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh.
Hệ thống ngân hàng thương mại với các nghiệp vụ như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tư,. sẽ giúp nền kinh tế của một quốc gia hòa nhập quốc tế. Hệ thống ngân hàng thương mại trong nước điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đưa nền tài chính trong nước bat kịp với nền tài chính quốc tế lớn.Các hoạt động chính của ngân hàng thương mại Theo sự phát triển của kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng, nghiệp vụ ngân hàng thương mại ngày càng gia tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng và được quy về 3 loại chính: Nghiệp vụ tài sản Nợ ( huy động vốn ), nghiệp vụ tài sản Có (sử dụng vốn) và nghiệp vụ trung gian thanh toán.Nghiệp vụ tài sản Nợ ( Nghiệp vụ huy động VỐN ) Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép dé huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng dé cho vay đối với nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức như: nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành giấy to có giá hoặc đi vay từ ngân hang nhà nước, ngân hàng thương mai và các tổ chức tín dung khác. Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản giúp ngân hàng thương mại thực hiện chức năng tạo tiền.Nghiệp vụ Tài sản Có ( Nghiệp vụ sử dụng von ) Nghiệp vụ tài sản Có của ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ: Dự trữ, tín dụng, đầu tư, tài sản Có khác. Trong đó, nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ dự trữ là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mai. Nghiệp vụ dự trữ :Ngan hang muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải đảm bảo khả năng thanh toán, từ đó các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó dé sẵn sàng đáp ứng nhu cau thanh toán.
Phần vốn dé dành này gọi là dự trữ.