phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chƣơng chính: 3 Chƣơng 1: Lý luận về thẩm định tài chính dự án đầu tƣ trong cho vay trung, dài hạn doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng thẩm định dự án trong cho vay trung dài hạn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong cho vay trung dài hạn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Agribank chi nhánh Sao Đỏ. 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ TRONG CHO VAY TRUNG, DÀI HẠN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TRUNG, DÀI HẠN THEO DỰ ÁN ĐẦU TƢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay trung, dài hạn theo dự án đầu tƣ của ngân hàng thƣơng mại Khái niệm cho vay trung, dài hạn: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Tín dụng ngân hàng có thể chia ra thành nhiều loại khác nhau tùy theo từng phƣơng thức phân loại khác nhau. Phân theo thời hạn tín dụng, tín dụng gồm có: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.
Trong đó: - Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dƣới một năm. - Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Đặc điểm cho vay trung, dài hạn.
- Tín dụng trung, dài hạn đƣợc cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ cho họ trong việc mua sắm, tạo lập tài sản cố định. - Do gắn liền với tài sản cố định và vốn cố định của khách hàng, tín dụng trung, dài hạn của NHTM thƣờng gắn liền với các dự án đầu tƣ. Tín dụng trung hạn thƣờng đầu tƣ theo chiều sâu, tín dụng dài hạn tập trung cho các dự án đầu tƣ mở rộng. - Tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thƣơng mại có thời gian hoàn vốn chậm.
Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu đƣợc lấy từ quỹ khấu hao và một phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại. Vì thế, khách chỉ có thể hoàn trả khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khác nhau – thời hạn cho vay kéo dài trong 5 nhiều năm. - Tín dụng trung, dài hạn thƣờng có thời gian kéo dài, quy mô tín dụng thƣờng lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luôn biến động. Khoản vay dài hạn thƣờng đem lại nhiều rủi ro hơn là một khoản vay ngắn hạn vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động này lớn hơn.
Mặt khác, lãi suất của cho vay trung,dài hạn thƣờng lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn vì độ rủi ro cao hơn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn. Vai trò của tín dụng trung, dài hạn theo dự án đầu tƣ của ngân hàng thƣơng mại - Đối với doanh nghiệp Tín dụng trung, dài hạn có vai trò quan trọng tác động hiệu quả đến sự phát triển của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng. Bởi lẽ, đối với sự cạnh tranh quyết liệt của nền kinh tế hiện nay, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đƣợc thì phải chuẩn bị một chiến lƣợc kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoạch xây dựng nhà xƣởng, mua sắm các thiết bị máy móc, đổi mới công nghệ để nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn.
Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới đƣợc tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trƣờng vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trƣờng cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiêp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trƣờng chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trƣờng chứng khoán là một biện pháp hỗ trợ vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhƣng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nƣớc có thị trƣờng vốn và thị trƣờng chứng khoán phát triển. Với các khoản vay từ Ngân hàng, doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn.
Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Khi thu nhập của doanh nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không nhƣ dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thƣơng lƣợng lại với Ngân hàng để cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với tình 6 hình thực tế kinh doanh tại doanh nghiệp. - Đối với ngân hàng. Phần lớn nguồn lợi nhuận thu đƣợc của Ngân hàng đƣợc đem lại từ hoạt động tín dụng.
Các khoản cho vay trung - dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó đƣợc thực hiện và giám sát đúng đắn. Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tƣ dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau. Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng.
Khi xác định mở rộng cho vay trung – dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trƣớc mắt mà còn mong đợi ở lợi ích lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung – dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi đƣợc Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản suất sẽ tăng lên. Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lƣu động hơn để đáp ứng cho sản xuất. Ngƣời đầu tiên mà các doanh nghiệp tìm đến chính là các Ngân hàng đã đầu tƣ cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của họ.
Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm đƣợc sự thông cảm do đã từng hợp tác. Về phía các ngân hàng, họ cũng muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp truyền thống để thuận lợi cho việc theo dõi, giám sát quá trình vay vốn và sử dụng vốn vay của khách hàng. - Đối với nền kinh tế. Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ có tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội.
Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, góp phần giảm bớt tệ nạn xã hội. Bên cạnh đó, phát triển cho vay trung , dài hạn sẽ giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nƣớc cho đầu tƣ xây dựng cơ bản. So với hình thức cấp phát từ ngân sách, hình thức tín dụng Ngân hàng rõ ràng có hiệu quả hơn do gắn với quyền lợi của Ngân hàng và doanh nghiệp. Để bảo đảm an toàn vốn, ngân hàng phải theo dõi sát sao đồng vốn của mình đã đầu tƣ, đƣa ra những lời khuyên hữu ích cho 7 doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn sinh lời.
Còn với doanh nghiệp, lãi suất vay vốn ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp, nên doanh nghiệp phải cố gắng sử dụng vốn vay có hiệu quả. Có thể nói, tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, đồng thời cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả. THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ TRONG CHO VAY TRUNG, DÀI HẠN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về thẩm định tài chính dự án đầu tƣ 1.
Khái niệm về dự án đầu tư Dự án đầu tƣ là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tƣợng nhất định nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng về số lƣợng, cải tiến hoặc nâng cao chất lƣợng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Xét về mặt hình thức, DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. Xét về mặt nội dung, DAĐT là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau đƣợc kế hoạch hoá nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét trên góc độ quản lý, DAĐT là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài.
Trên góc độ kế hoạch hóa: DAĐT là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tƣ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tƣ và tài trợ. Trên giác độ này, dự án đầu tƣ là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung. Phân loại dự án đầu tư - Theo cơ cấu tái sản xuất: dự án đầu tƣ gồm có dự án đầu tƣ theo chiều rộng và dự án đầu tƣ theo chiều sâu. DAĐT theo chiều rộng thƣờng đòi hỏi khối lƣợng vốn 8 lớn, thời gian đầu tƣ và thời gian hoạt động để thu hồi vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao.
Trái lại, DAĐT theo chiều sâu thƣờng đòi hỏi lƣợng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tƣ không lâu và độ mạo hiểm cũng thấp hơn.