CHƯƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2020: “doanh nghiệp nhỏ có số vốn tham gia từ 20 tỷ đồng trở xuống và số lao động từ trên 10 người đến 200 người; doanh nghiệp vừa có số vốn tham gia từ trên 10 tỷ dồng đến 100 tỷ đồng và số lao động từ 300 người trở xuống” (Quốc Hội, 2020). Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Quy mô Lĩnh vực Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ nhỏ vừa Số lao động tham Số lao động tham Số lao động tham gia BHXH bình gia BHXH bình Nông, lâm gia BHXH bình quân quân <= 100 người/ quân <= 200 nghiệp <= 10 người/ năm năm người/ năm Thủy sản Tổng doanh thu =< 3 Tổng doanh thu =< Tổng doanh thu Công nghiệp tỷ/năm 50 tỷ/năm =< 300 tỷ/năm Xây dựng Hoặc tổng nguồn Hoặc tổng nguồn Hoặc tổng nguồn vốn <= 3 tỷ vốn <= 20 tỷ vốn <= 100 tỷ Số lao động tham Số lao động tham Số lao động tham gia BHXH bình gia BHXH bình gia BHXH bình quân =< quân =< 50 quân =< 100 10 người/năm Thương mại người/năm người/năm Tổng doanh thu <= 10 Dịch vụ Tổng doanh thu <= Tổng doanh thu tỷ/năm 100 tỷ/năm <= 300 tỷ/năm Hoặc Tổng nguồn Hoặc Tổng nguồn Hoặc Tổng nguồn vốn <= 3 tỷ vốn <= 50 tỷ vốn <= 100 tỷ (Nguồn: Quốc Hội (2020), Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ) Như vậy, một tổ chức được xác định là một DNNVV khi: 6 + Là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật.
+ Có số lao động bình quân năm hoặc quy mô tổng nguồn vốn/tổng tài sản đáp ứng theo quy định, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa. + Tiêu chí xác định loại hình doanh nghiệp (siêu nhỏ, nhỏ hay vừa) đối với từng ngành nghề khác nhau thì khác nhau. Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, yêu cầu về số lượng lao động hoặc quy mô tài sản đều ít hơn so với doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp hoặc công nghiệp và xây dựng. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa So với doanh nghiệp lớn và rất lớn, DNNVV có những đặc điểm khác biệt sau: Một là, DNNVV có quy mô nhỏ, chu kì sản xuất kinh doanh ngắn: Hầu hết các DNNVV có số vốn, số lao động sử dụng hoặc doanh thu nhỏ hơn các doanh nghiệp lớn cùng ngành nghề.
Do có quy mô vốn nhỏ nên DNNVV có thể được thành lập và đi vào kinh doanh ổn định trong thời gian ngắn. Chỉ cần một ít vốn, số lao động nhất định và mặt bằng là có thể khởi sự doanh nghiệp. Hai là, DNNVV có bộ máy điều hành gọn nhẹ, độ linh hoạt cao: Vì qui mô nhỏ nên bộ máy quản trị DNNVV tinh, gọn, rất năng động trong việc ra quyết định gia nhập hoặc rút khỏi thị trường một sản phẩm, một lĩnh vực cụ thể. Nhờ có bộ máy quản trị gọn nhẹ, linh hoạt nên DNNVV dễ thích ứng với sự thay đổi chính sách của nhà nước cũng như thích ứng với thị trường ngách, thị trường hàng hóa có chi phí sản xuất không lớn.
Ba là, các DNNVV có lợi thế so với các lớn: do các DNNVV có thể tham gia nhiều ngành nghề khác nhau do không đòi hỏi quy mô vốn ban đầu lớn, khấu hao nhanh, nhất là có thể khai thác các ngành nghề truyền thống của từng địa phương, bám sát nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng, nhanh chóng đổi mới công nghệ. nhờ đó có nhiều cải tiến, sáng tạo ra những hàng hoá và dịch vụ mới đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. Bốn là, các DNNVV có lợi thế trong khai thác các nguồn lực sẵn có ở địa phương: DNNVV nhiều đã tạo ra các tác động ngoại sinh như tạo ra nhiều việc làm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho dân cư ở các địa phương hoặc duy trì 7 và phát huy các ngành, nghề truyền thống văn hoá của dân tộc, có tác dụng trong việc giảm khoảng cách giữa người giàu với người nghèo, giảm sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn, góp phần ổn định xã hội. Năm là, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bị hạn chế trong mở rộng hoạt động kinh doanh: do quy mô không lớn, tiềm lực tài chính hạn chế, số lượng lao động ít, năng lực quản lý doanh nghiệp thấp, khó thu hút người tài, khó chủ động trong nghiên cứu, phát minh, sáng chế, nên các DNNVV không thể tiến hành các dự án đầu tư lớn, không thể theo đuổi các chiến lược kinh doanh dài hạn.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò như sau: Một là, DNNVV cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm, dịch vụ đa dạng, phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Hai là, DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm phù hợp với nhiều đối tượng, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần ổn định xã hội. Nhất là những nước đông dân lại sống chủ yếu bằng nghề nông, thu nhập thấp như nước ta. Hàng năm có thêm khoảng 1 triệu người gia nhập lực lượng lao động mà khả năng thu hút lao động mới này vào các doanh nghiệp lớn thuộc khối quốc doanh là rất hạn chế.
Sự tồn tại và phát triển DNNVV là phương tiện có hiệu quả để giải quyết vấn đề thất nghiệp, là nguồn lực chủ yếu tạo ra việc làm ( Nguyễn Thị Huyền Trang, 2018). Ba là, DNNVV phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính Với quy mô nhỏ và vừa, lại được phân tán ở hầu khắp các địa phương, các vùng lãnh thổ nên DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, về nguyên vật liệu với nguồn trữ lượng hạn chế không đáp ứng đủ nhu cầu quy mô lớn nhưng lại sẵn có ở địa phương, sử dụng các sản phẩm phụ hoặc phế liệu, phế phẩm của các doanh nghiệp lớn. Bốn là, DNNVV hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn trong sản xuất kinh doanh Các DNNVV có thể nhận gia công, sản xuất cung ứng nguyên liệu đầu vào, 8 nhận làm đại lý phân phối tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho các doanh nghiệp lớn. Từ đó phát huy thế mạnh của từng loại hình doanh nghiệp, tăng tính chuyên môn hoá, nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp.
Đặc biệt, trong quá trình đổi mới hội nhập của đất nước vai trò hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn của DNNVV sẽ ngày một khẳng định và phát huy thêm. Năm là, DNNVV góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ, những nhà kinh doanh, những nhà quản trị mới trong nền kinh tế thị trường. Thực tế cho thấy, có những doanh nghiệp giữ quy mô vừa và nhỏ vì đó là quy mô có hiệu quả nhất phù hợp với khả năng kinh doanh và tiềm năng của doanh nghiệp, nhưng cũng có nhiều DNNVV phát triển thành doanh nghiệp lớn. Với sự phát triển trong tất cả các lĩnh vực tài công nghiệp, xây dựng, đến nhà hàng, khách sạn.
ở quy mô nào các DNNVV cũng vẫn là vườn ươm nhân tài cho công cuộc phát triển đất nước. Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại Theo Tô Ngọc Hưng “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo giá thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay” (Tô Ngọc Hưng, 2022).
NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khách hàng như các cá nhân, các doanh nghiệp… Tuy nhiên, tùy theo đối tượng vay vốn, khái niệm cho vay có thể được hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Hiện nay, trong các đối tượng khách hàng của NHTM thì DNNVV là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất. Ưu điểm của DNNVV không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lượng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cư. Theo đó theo quan niệm của tác giả: Cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc điểm của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại Thứ nhất, các khoản cho vay đối với DNNVV thường nhỏ Do các DNNVV có quy mô cũng như nguồn vốn không lớn, vì vậy, trong khuôn khổ hoạt động của doanh nghiệp thường đầu tư vào các dự án có quy mô phù hợp với khả năng, đó là những dự án có mức đầu tư vừa phải nên món vay ngân hàng của doanh nghiệp thường nhỏ. Thứ hai, loại hình cho vay DNNVV chủ yếu là cho vay ngắn hạn Do các DNNVV thường có nhu cầu vay vốn tạm thời cao, đáp ứng cho nhu cầu tài trợ vốn lưu động như mua nguyên vật liệu…, có khả năng quay vòng vốn nhanh. Các khoản vay dài hạn của DNNVV thường phát sinh khi mở doanh nghiệp hoặc mua máy móc thiết bị hoặc đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên. Tuy nhiên, các khoản vay dài hạn khi doanh nghiệp mới thành lập chứa đựng nhiều rủi ro, thường các DNNVV không đủ tài sản bảo đảm khi vay vốn mua thiết bị, máy móc.
Vì vậy doanh số cho vay ngắn hạn vẫn chiếm chủ yếu do thời gian luân chuyển vốn nhanh, ngân hàng có thể nhanh quay vòng vốn. Thứ ba, tỷ lệ cho vay DNNVV có tài sản bảo đảm thường cao Do các DNNVV vẫn tồn tại những yếu kém như năng lực tài chính không cao, khả năng xây dựng phương án kinh doanh còn nhiều hạn chế. Vì vậy mà khi cho vay vốn, các ngân hàng thường yêu cầu tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Thứ tư, ngân hàng có nhiều cơ hội thu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp làm ăn hiệu quả.
Với nhóm DNNVV, ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các doanh nghiệp lớn.