Chương 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại các quốc gia khác nhau có những quy định khác biệt trong việc xác định thế nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa, điều đó được bắt nguồn từ điều kiện kinh tế xã hội, trình độ phát triển cũng như quy mô doanh nghiệp ở các nước.
Có nhiều tiêu thức có thể được sử dụng để phân loại, trong đó có hai tiêu thức căn bản thường được các quốc gia sử dụng để phân loại là tiêu thức về quy mô vốn và số lượng lao động. - Ngân hàng thế giới WB phân loại doanh nghiệp dựa vào số lượng lao động thường xuyên; theo đó nếu có dưới 10 lao động được xếp là doanh nghiệp siêu nhỏ; có từ 10 đến 50 người là doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có từ 50 đến 300 lao động. - Ủy ban châu Âu (Ủy ban) lần đầu tiên đưa ra định nghĩa DNNVV được áp dụng chung ở Liên minh châu Âu trong Khuyến nghị số 96/280/EC ngày 03/4/1996. Khuyến nghị này sau đó được cập nhật và thay thế bởi Khuyến nghị số 2003/361/EC ngày 06/5/2003.
Theo đó, “một doanh nghiệp là bất kỳ thực thể nào tham gia vào hoạt động kinh tế, bất kể hình thức pháp lý (legal form) của nó. Doanh nghiệp cũng bao gồm cá nhân tự doanh (self-employed persons), hộ kinh doanh (family business) trong ngành nghề thủ công và các hoạt động khác, và các hợp doanh (partnerships) hoặc các hiệp hội (association) thường xuyên tham gia vào hoạt động kinh tế”[1]. Để xác định một doanh nghiệp là nhỏ và vừa, Khuyến nghị số 2003/361/EC của Ủy ban châu Âu đã đưa ra tiêu chí số lượng nhân viên (staff headcount); và hạn mức tài chính của doanh nghiệp (financial ceilings). Số lượng nhân viên trong một doanh nghiệp được tính dựa trên số lượng người làm việc toàn thời gian, người làm việc bán thời gian, người làm việc tạm thời hoặc thời vụ trong năm được lấy số liệu.
Nhân viên trong doanh nghiệp bao gồm: người lao động; người làm việc cho doanh nghiệp khác phụ thuộc vào doanh nghiệp được xem xét; người chủ sở hữu kiêm quản trị viên (owner-manager); các cộng sự (partners) tham gia vào hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp và hưởng lợi từ 8 những lợi thế tài chính của doanh nghiệp. Nhân viên của doanh nghiệp không bao gồm: những người học nghề hoặc sinh viên tham gia vào hoạt động đào tạo nghề hoặc theo hợp đồng học nghề; người lao động đang trong thời gian nghỉ thai sản hoặc trong thời gian nghỉ dành cho người bố chăm sóc con mới sinh. Hạn mức tài chính hay chỉ số tài chính dùng xếp loại doanh nghiệp được thể hiện qua doanh thu hàng năm (annual turnover) hoặc/và bảng cân đối tài sản hàng năm (annual balance sheet). Doanh thu hàng năm là thu nhập của doanh nghiệp nhận được trong một năm từ việc bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ sau khi trừ các khoản hoàn lại (rebates) và không bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT) hay các thuế gián thu khác.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không nhất thiết phải thỏa mãn cả hai yêu cầu mà có thể chọn thỏa mãn hoặc yêu cầu về doanh thu hàng năm hoặc yêu cầu về bảng cân đối tài sản hàng năm. Quy định cho phép sự lựa chọn này bởi các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại và phân phối có số liệu doanh thu cao hơn những doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất. Việc lựa chọn giữa tiêu chí doanh thu và tiêu chí bảng cân đối tài sản sẽ phản ánh được tình trạng tài chính tổng thể của một doanh nghiệp và đảm bảo rằng các doanh nghiệp tham gia vào các loại hoạt động kinh tế khác nhau được đối xử công bằng. Có thể tóm lược cách xếp loại doanh nghiệp của Ủy ban châu Âu như sau: Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp tại Liên minh châu Âu Hạn mức tài chính Loại doanh nghiệp Số lượng nhân viên Doanh thu Bảng cân đối tài sản Doanh nghiệp siêu nhỏ <10 ≤ 2 triệu € ≤ 2 triệu € Doanh nghiệp nhỏ < 50 ≤ 10 triệu € ≤ 10 triệu € Doanh nghiệp vừa <250 ≤ 50 triệu € ≤ 43 triệu € Nguồn: Khuyến nghị số 2003/361/EC [1] Tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á, tiêu chí xác định DNNVV được quy định dựa vào số lao động hoặc/và tổng vốn hay giá trị tài sản của doanh nghiệp: 9 Bảng 1.2: Phân loại doanh nghiệp tại một số quốc gia Asean Tiêu chí áp dụng Quốc gia Số lao động Tổng vốn/ giá trị tài sản Indonesia <100 <0,6 tỷ IDR Singapore <100 < 0,5 triệu SGD Thái Lan < 100 < 20 triệu THB Nguồn: Học viên tổng hợp từ phân loại của các quốc gia Tại Việt Nam, hướng dẫn đầu tiên về doanh nghiệp nhỏ và vừa là Công văn số 681/CP- KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tuy nhiên, Công văn chưa quy định cụ thể về khái niệm vừa và nhỏ mà chỉ quy định về tiêu chí làm văn cứ xác định. Theo đó, Công văn quy định áp dụng số vốn và lao động để làm xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể là vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người. Quy định này được áp dụng linh động tại từng địa phương tùy và điều kiện kinh tế-xã hội mà mỗi địa phương có thể lựa chọn căn cứ là cả hai tiêu chí hoặc một trong hai tiêu chí trên. Đến thời điểm năm 2001, do nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có khái niệm để thuận tiện cho việc quản lý và định hướng phát triển, lần đầu tiên đã có một văn bản pháp luật là Nghị định số 90/2001/NĐ- CP đã chính thức đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ – CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đưa ra định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên”[2]. Như vậy, việc xác định doanh nghiệp thuộc quy mô nhỏ và vừa đã được cụ thể hóa trong khái niệm trên với các tiêu chuẩn cụ thể hơn. Theo thời gian, các quy định dần trở nên hạn chế so với thực tiễn, đòi hỏi Quốc hội và Chính phủ ban hành những văn bản sửa đổi.
Các định chế và hỗ trợ doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện và tiến bộ. Lần đầu tiên ở Việt Nam đã có đạo luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ khi Quốc hội đã thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ vào ngày 12/6/2017. Hiện nay, việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định tại Nghị định 80/2021/NĐ-CP [3] như sau: 10 “Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.
- Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. - Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Bên cạnh những đặc điểm vốn có của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có những đặc trưng riêng như sau: Thứ nhất, DNNVV có số vốn đầu tư ban đầu hạn chế, có khả năng thu, hồi vốn nhanh, dễ dàng, linh hoạt trong chuyển đổi kinh doanh. Số vốn đăng, ký ban đầu của DNNVV thường ở mức thấp, thường hướng tới các ngành hàng có chu kỳ sản,xuất kinh doanh tương đối ngắn ngắn và thường có khả năng thu hồi vốn nhanh. Chính vì đặc điểm này nên mặc dù khối lượng tín dụng của các NHTM dành cho các DNNVV có tăng, lên trong các năm qua tại Việt Nam, nhưng thực tế các DNNVV thường khó tiếp, cận được với 11 tín dụng ngân hàng hoặc phải chấp nhận những điều kiện tín dụng tương đối khắt khe do tài sản bảo đảm thường ở mức hạn chế, những đánh giá về năng lực tài chính thiếu toàn diện. Thứ hai, DNNVV tồn tại và phát triển ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, song chủ yếu tồn tại trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ nông – lâm – ngư nghiệp.