phần mở đầu, kết luận, kết cấu luận văn gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Hùng Vƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại HDBank - chi nhánh Hùng Vƣơng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Thực tế trên thế giới, các nƣớc có quan niệm rất khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là do tiêu chuẩn dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, trong hàng loạt các tiêu chuẩn phân loại thì có hai tiêu chuẩn đƣợc sử dụng ở phần lớn các nƣớc là: Quy mô vốn và Số lƣợng lao động. Mặt khác, việc lƣợng hóa các tiêu chuẩn để phân loại quy mô doanh nghiệp còn tùy thuộc vào những yếu tố nhƣ: trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nƣớc, quy định cụ thể phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn, trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau.
Theo nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định, doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. 8 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định. Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc xác định căn cứ vào quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế và quy định của pháp luật chuyên ngành.
Trƣờng hợp hoạt động trong nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc xác định căn cứ vào lĩnh vực có doanh thu cao nhất. Trƣờng hợp không xác định đƣợc lĩnh vực có doanh thu cao nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc xác định căn cứ vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nhất. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 9 Trong nền kinh tế của hầu hết các quốc gia ngày nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm vị trí và vai trò rất quan trọng, đƣợc coi là “cỗ máy tạo việc làm”, là động lực cho tăng trƣởng. Với quy mô nhỏ và vừa nên DNNVV có thể thích ứng kịp thời hơn đối với những thay đổi của tình hình thực tế và nhờ đó giúp nền kinh tế của quốc gia ứng phó tốt hơn với những biến động.
Tuy nhiên, cũng do quy mô nhỏ và vừa của mình nên DNNVV gặp phải nhiều bất lợi và khó khăn trong cạnh tranh với các doanh nghiệp và tập đoàn lớn. Vì vậy, Chính phủ của các quốc gia thƣờng có những chính sách hỗ trợ cho DNNVV nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp này phát triển và đóng góp nhiều hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Mỗi doanh nghiệp ở mỗi ngành nghề, lĩnh vực hay ở các quốc gia khác nhau đều có những đặc điểm nổi bật khác nhau. Tuy nhiên, khi so sánh với các doanh nghiệp quy mô lớn, DNNVV nói chung có một số đặc điểm cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, DNNVV chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Trên thế giới, số lƣợng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp. Tại Việt Nam, theo thông cáo báo chí gần đây nhất của Tổng cục thống kê, tính đến 31/12/2018, số lƣợng DNNVV là 594.129 doanh nghiệp, chiếm 98,1% tổng số doanh nghiệp đăng ký, đóng góp khoảng 45% GDP cả nƣớc và 31% vào tổng thu ngân sách nhà nƣớc, thu hút hơn 5 triệu việc làm. DNNVV đƣợc xem nhƣ lực lƣợng sản xuất quan trọng của nền kinh tế, tạo ra của cải vật chất và công ăn việc làm cho xã hội. Sự phát triển của DNNVV cũng là nền tảng để hình thành những tập đoàn tƣ nhân của đất nƣớc.
Thứ hai, DNNVV có quy mô nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt là đối với các nƣớc đang phát triển. Tuy nhiên, với vốn đầu tƣ ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh, việc tổ chức linh hoạt, gọn nhẹ góp phần tiết kiệm chi phí quản lý, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tƣ 10 sản xuất kinh doanh. Thứ ba, DNNVV chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và giữa các doanh nghiệp với nhau. Với nguồn vốn nhỏ hẹp, các doanh nghiệp này thƣờng tập trung vào các ngành hàng gần gũi với ngƣời tiêu dùng, chủ yếu là lĩnh vực sản xuất hơn là các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác mà cần vốn đầu tƣ lớn.
Thứ tƣ, phần lớn các doanh nghiệp chƣa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công nghệ trong quá trình cạnh tranh. Lƣợng doanh nghiệp có thể tiếp cận các chính sách, thông tin KH – CN cũng còn rất hạn chế. Mặt khác, phần lớn là các cơ sở thủ công đi lên, sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều tài nguyên và thƣờng ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng. Thứ năm, số lƣợng lao động tạo ra từ loại hình doanh nghiệp này là khá lớn.
Tuy nhiên, chủ yếu là lao động phổ thông, số lƣợng qua đào tạo còn ít. Điều đó gây khó khăn trong việc giữ ngƣời lao động và nâng cao trình độ lao động. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò rất lớn trong quá trình tăng trƣởng kinh tế của nhiều quốc gia hay các vùng miền, kể cả ở các quốc gia phát triển và đang phát triển. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân từ sản xuất công nghiệp, xây dựng, thƣơng mại, dịch vụ… đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của ngƣời tiêu dùng.
Ở những nền kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc thể hiện ở các mức độ khác nhau. Nhƣng thực tế cho thấy, tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng lớn khi mà phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng thể hiện thông qua số lƣợng doanh nghiệp hoạt động có mặt ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại nhƣ một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế mỗi quốc gia. Cụ thể nhƣ sau: 11 Thứ nhất, DNNVV có vai trò quan trọng trong việc ổn định và tăng trƣởng của nền kinh tế. Ở hầu hết các nền kinh tế, DNNVV đều là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn.
Vì vậy, DNNVV đƣợc coi là “thanh giảm sốc” cho nền kinh tế khi có những biến động lớn. Với lợi thế nguồn vốn đầu tƣ ít và nguồn lao động dồi dào, trong những năm qua lƣợng DNNVV tăng lên đáng kể, cung cấp cho thị trƣờng nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng, kích thích tiêu dùng, thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế, góp phần gia tăng tổng sản lƣợng nền kinh tế. Thứ hai, DNNVV giúp giải quyết một lƣợng lớn lao động trong xã hội, làm tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, năm 2019, bình quân cả nƣớc có 7,9 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân.
Ở Việt Nam, mỗi năm doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra hơn một triệu việc làm mới cho ngƣời lao động, phần lớn thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Thứ ba, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút đƣợc khá nhiều vốn đầu tƣ, góp phần làm năng động nền kinh tế. Nếu nền kinh tế tập trung quá nhiều nguồn lực vào các doanh nghiệp lớn thì sẽ làm cho nền kinh tế bị chậm chạp. Ngƣợc lại, các DNNVV với quy mô nhỏ, dễ điều chỉnh hoạt động giúp cho nền kinh tế trở nên năng động và linh hoạt, thích nghi với những biến động thị trƣờng, bắt kịp xu hƣớng kinh tế.
Thứ tƣ, DNNVV góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là khu vực nông thôn. Nếu nền kinh tế chỉ chú trọng vào các doanh nghiệp lớn ở các thành phố, thị xã, các khu công nghiệp mà thiếu đi các doanh nghiệp nhỏ thì sẽ xảy ra sự mất cân đối giữa các vùng miền, không khai thác đƣợc tối đa các nguồn tài nguyên quốc gia, làm giảm hiệu quả của nền kinh tế. Trong khi đó, với quy mô vốn đầu tƣ nhỏ, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, dễ khởi nghiệp, các DNNVV có thể tham gia vào nhiều thị trƣờng nhằm khai 12 thác nguồn tài nguyên, đất đai và lao động.