phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung nghiên cứu của luận văn gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận chung về phân tích tài chính của doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng công tác phân tích tài chính tại Công ty Xăng dầu Hà Tĩnh Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Xăng dầu Hà Tĩnh.
3 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm chung 1. Định nghĩa về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp “Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu” (Lƣu Thị Hƣơng, 2005). Để đạt đƣợc mục tiêu đó, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: Quyết định sản xuất cái gì, quyết định sản xuất nhƣ thế nào và quyết định sản xuất cho ai.
“Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” (Đặng Thúy Phƣợng, 2010) Để nắm đƣợc tình hình tài chính của doanh nghiệp mình cũng nhƣ tình hình tài chính của các đối tƣợng quan tâm thì việc phân tích tài chính là rất quan trọng. “Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp những đối thượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ” (Nguyễn Trọng Cơ, 2008). Hay nói cách khác, phân tích tài chính doanh nghiệp là làm sao cho các con số trên báo cáo tài chính “biết nói” để ngƣời sử dụng chúng có thể hiểu rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp và các mục tiêu, các phƣơng pháp hành động của ngƣời quản lý doanh nghiệp đó. Sự cần thiết của công tác phân tích tài chính Trên thực tế, có rất nhiều chủ thể quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp tùy theo mục tiêu mà họ theo đuổi.
Do đó, việc phân tích tài chính cũng đƣợc tiến hành theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu phân tích và đối tƣợng sử dụng kết quả phân tích. 4 Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu. Kết quả phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp các nhà quản trị đánh giá đƣợc tình hình tài chính doanh nghiệp, đánh giá đƣợc một cách cụ thể điểm mạnh, điểm yếu, hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ dự báo đƣợc các cơ hội, rủi ro của doanh nghiệp trong tƣơng lai, làm cơ sở cho các nhà quản trị đƣa ra các quyết định tài chính phù hợp. Đối với chủ ngân hàng và các chủ nợ, mối quan tâm của họ chủ yếu hƣớng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến số lƣợng tiền tạo ra và các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền. Ngoài ra, họ còn quan tâm đến số lƣợng vốn của chủ sở hữu để đảm bảo chắc chắn rằng các khoản vay có thể và sẽ đƣợc thanh toán khi đến hạn. Đối với các nhà đầu tƣ, sự quan tâm của họ hƣớng vào các yếu tố nhƣ rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức tăng trƣởng, khả năng thanh toán vốn,… Vì vậy họ luôn tìm hiểu những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh, khả năng sinh lời hiện tại và tƣơng lai,… Đối với nhà cung cấp họ phải quyết định xem sắp tới có bán hàng chịu cho doanh nghiệp hay không.Vì vậy họ phải biết đƣợc khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và thời gian sắp tới,… Nhƣ vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trƣng qua một hệ thống các phƣơng pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp ngƣời sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết, dự báo và đƣa ra những quyết định tài chính phù hợp. Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 1.
Mục tiêu phân tích - Nhận dạng những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về tài chính theo các tiêu chí sau: Hiệu quả tài chính (khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài sản) Rủi ro tài chính (khả năng thanh khoản, khả năng quản lý nợ) Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (cân đối tài chính, các đòn bẩy và đẳng thức Dupont) - Tìm hiểu, phân tích các nguyên nhân đứng sau thực trạng đó. - Đề xuất giải pháp cải thiện vị thế tài chính của doanh nghiệp. Căn cứ phân tích Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập sử dụng mọi nguồn thông tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lƣợng đến thông tin giá trị. Những thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đƣa ra những nhận xét kết luận tinh tế và đích đáng.
- Thông tin bên ngoài, cần lƣu ý thu thập: + Những thông tin chung: thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi xuất: + Thông tin về ngành kinh doanh: thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần. + Thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp: các thông tin mà các doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý Nhà nƣớc nhƣ: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Thông tin bên trong: Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp nhƣ là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất. Với những đặc trƣng hệ thống, đông nhất và phong phú, kế toán hoạt động nhƣ một nhà cung cấp quan trong những thông tin đáng giá cho phân tích tài chính.
Vả lại, các doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ cung cấp những thông tin kế toán cho các đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Thông tin kế toán đƣợc phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán. Phân tích tài chính đƣợc thực hiện trên cơ sở các 6 báo cáo tài chính - đƣợc hình thành thông qua việc xử lý các báo cáokế toán chủ yếu, đó là: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt dộng kinh doanh; Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính; 1. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đố của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, cơ cấu vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể đánh giá sự phân bổ nguồn tài chính ngắn hạn, dài hạn của doanh nghiệp có phù hợp với cơ cấu tài sản của doanh nghiệp hay không? Tính thanh khoản của doanh nghiệp ra sao? Từ đó đƣa ra các quyết định tài chính nhƣ thế nào? Bảng cân đối kế toán đƣợc chia thành hai phần: một phần là tài sản và một phần là nguồn vốn. Phần tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Một tài sản đƣợc xếp vào loại tài sản ngắn hạn, khi tài sản này: - Đƣợc dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thƣờng của doanh nghiệp; hoặc - Đƣợc nắm giữ chủ yếu cho mục đích thƣơng mại hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ; hoặc - Là tiền hoặc tài sản tƣơng đƣơng tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào.
Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn đƣợc xếp vào loại tài sản dài hạn. Tài sản dài hạn gồm: Tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính, bất động sản đầu tƣ, các khoản đầu tƣ tài chính dài hạnh và tài sản dài hạn khác. Phần nguồn vốn cho thấy nguồn tiền nào dùng để mua tài sản. Nguồn vốn bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
Nợ phải trả gồm nợ phải trả ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn. một khoản nợ phải trả đƣợc xếp vào loại nợ ngắn hạn, khi khoản nợ này: 7 - Đƣợc dự kiến thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thƣờng của doanh nghiệp; hoặc - Đƣợc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ khi kết thúc kỳ kế toán năm. Tất cả các khoản nợ phải trả khác ngoài nợ ngắn hạn đƣợc xếp vào loại nợ phải trả dài hạn. Nợ dài hạn của doanh nghiệp có thể do phát hành trái phiếu hay vay trực tiếp ở ngân hàng.
Phần còn lại của nguồn vốn là vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu gồm vốn đầu tƣ của chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại, các quỹ của doanh nghiệp,. Ưu điểm: nhìn vào Bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết đƣợc các loại hình doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán là một tƣ liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh gá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp.
Nhược điểm: Bên cạnh những ƣu điểm trên, Bảng cân đối kế toán cũng có một đặc điểm rất quan trọng cần đƣợc quan tâm là: giá trị của các chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán (bị chi phối bởi các nguyên tắc kế toán) đƣợc phản ánh theo giá trị sổ sách kế toán (book value) chứ không phản ánh theo giá trị thị trƣờng (market value).